Đến Assisi để cảm nhận kinh hòa bình


Tổ chức Unesco công nhận thành phố Assisi và cụm các nhà thờ dòng Phan-xi-cô là di sản thế giới năm 2000. Thành phố đậm sắc màu trung cổ nằm trên ngọn đồi Asio với những con đường lát đá duyên dáng và phần lớn nhà cửa tại đây cũng được xây bằng đá tự nhiên. Các bạn sẽ ngạc nhiên nếu biết chúng đã được trùng tu sau động đất lớn xảy ra năm 1997.

0 nhận xét

VietJetAir đồng hành cùng đêm nhạc Trịnh Công Sơn

Hòa mình vào đêm nhạc tưởng nhớ nhạc sĩ Trịnh Công Sơn: “12 năm nhớ Trịnh Công Sơn - Đóa hoa vô thường”, VietJetAir vinh dự là nhà bảo trợ vận chuyển cho các nghệ sĩ và Ban tổ chức chương trình.  

0 nhận xét

Hội chợ triển lãm làng nghề tại Festival nghề truyền thống Huế 2013


 Hội chợ với quy mô 150 - 200 gian hàng. Trong đó, có khoảng 50 gian hàng giới thiệu nghề thủ công truyền thống, làng nghề, ngành nghề nông thôn của tỉnh TT-Huế.
 Chiếc nón lá đã trở thành biểu trưng cho vẻ đẹp của phụ nữ Huế
 Chiếc nón lá đã trở thành biểu trưng cho vẻ đẹp của phụ nữ Huế (Ảnh: Báo điện tử Đảng CSVN)
  Đây là hội chợ nhằm tôn vinh các nghệ nhân, các thợ thủ công và hàng thủ công mỹ nghệ Việt Nam; tạo điều kiện cho cơ sở sản xuất kinh doanh tại các làng nghề giới thiệu, giao lưu, học hỏi kinh nghiệm đẩy mạnh sản xuất, mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm. Đồng thời, góp phần quảng bá, giới thiệu hình ảnh làng nghề truyền thống gắn với đất nước con người Việt Nam với du khách trong và ngoài nước.
Theo Bảo Anh

0 nhận xét

Ý tưởng trang trí siêu 'độc' cho ly rượu


Những chiếc ly được sơn, vẽ, dùng làm giá nến là ý tưởng bất ngờ mà hiệu quả vô cùng.

1. Sơn lại đáy ly
Nhúng ly rượu của bạn vào sơn màu và bạn có thể dùng phấn hoặc màu vẽ ghi tên từng người lên ly rượu. Thật là một cách ấn tượng và tiện dụng để phân biệt các ly rượu với nhau trên bàn tiệc. 
Ý tưởng trang trí siêu 'độc' cho ly rượu
2. Làm ly rượu lấp lánh đón giao thừa
Ý tưởng trang trí siêu 'độc' cho ly rượu
Bước 1. Trộn đều keo dán với nhũ.
Ý tưởng trang trí siêu 'độc' cho ly rượu
Bước 3. Quết lớp keo - nhũ này lên phần đáy chiếc ly của bạn. Giảm dần lượng nhũ khi quết lên phía gần thân cốc. Bạn đã có một chiếc cốc tuyệt đẹp, hợp với mọi bữa tiệc.
Ý tưởng trang trí siêu 'độc' cho ly rượu
Cũng với cách tương tự, nhưng biến tấu một chút với việc dán thêm chữ, băng dính để tránh quết nhũ vào những phần không muốn sơn, bạn sẽ có thêm nhiều loại ly đa dạng.
Ý tưởng trang trí siêu 'độc' cho ly rượu
Ý tưởng trang trí siêu 'độc' cho ly rượu
Ý tưởng trang trí siêu 'độc' cho ly rượu
3. Trồng cây trong ly
Ý tưởng trang trí siêu 'độc' cho ly rượu
Ý tưởng trang trí siêu 'độc' cho ly rượu
Ý tưởng trang trí siêu 'độc' cho ly rượu
Những chiếc ly "nở hoa" này có thể dùng để trang trí bàn tiệc hoặc làm quà tặng đều miễn chê. 
4. Giá cắm nến
Lật úp chiếc ly lại. Cho vào dưới ly vài bông hoa, đồ trang trí và cắm nến bên trên, bạn đã có một chiếc giá nến độc, đẹp. 
Ý tưởng trang trí siêu 'độc' cho ly rượu
5. Đèn lung linh
Cắm nên bên trong ly và úp những chiếc cốc giấy lên trên và bạn đã có những chiếc đèn lung linh bày bàn tiệc. 
Ý tưởng trang trí siêu 'độc' cho ly rượu
6. Vải phủ đế ly điệu đà
Dùng vải felt, vải dạ cắt thành những bông hoa tỉ mỉ như thế này để "cá tính hóa" bộ ly nhà bạn!
Ý tưởng trang trí siêu 'độc' cho ly rượu
7. Ly rượu từ chén uống trà
Bạn đã chán bộ ly rượu và chén uống trà cũ nhà mình? Cách tốt nhất là tận dụng chân của ly rượu ghép với chén uống trà để tạo nên bộ ly có họa tiết độc nhất vô nhị!
Ý tưởng trang trí siêu 'độc' cho ly rượu
Tom Kat (Xzone/TTTĐ

0 nhận xét
Nhãn: , , , , , ,

Kỳ 11: Cùng đi du lịch Huế, thưởng thức những họa tiết khắc trên Cửu Đỉnh Huế - Cao Đỉnh


Lòn bon, Luân xa pháo,Nguyệt, Nhu

NAM TRÂN

8. Nam Trân, tục danh cây lòn bon(28) có nơi gọi là lòn bong, cao độ vài mét, mùa xuân nở hoa, mùa thu quả chín; vỏ mỏng, cùi thịt trắng, vị thơm ngọt; vùng núi Quảng Nam rất nhiều. Về trái cây này, có một chuyện ở vùng Quảng Nam kể rằng: khi Nguyễn Vương còn đang ẩn náu ở nguồn sông Ô Gia, vì thiếu lương thực nên nhiều ngày chỉ ăn cầm bữa bằng quả lòn bon. Vì vậy mà sau này, khi Nguyễn Vương lên ngôi vua Gia Long, người ta đã đặt tên cho cây trái này là phụng quân mộc (cây gặp vua). Chắc chắn cũng vì cái tích ấy nên khi đúc Cửu đỉnh, vua Minh Mạng cho khắc hình tượng cây lòn bon vào Nhân đỉnh. (28). Đại Nam nhất thống chí, Sài Gòn xb (1962); Hà Nội xb (1969), đều không chú cây nam trân khắc ở đỉnh nào.

LUÂN XA PHÁO

9. Luân Xa Pháo, tức là loại pháo khá lớn đặt trên bệ đỡ có hai bánh xe, được chế tạo dưới triều vua Gia Long, Minh Mạng. Loại súng này thường được kéo theo các đơn vị quân đội bộ binh, cơ động nhanh. Trong chiến đấu, luân xa pháo được binh lính đẩy dàn lên trước hàng quân, khai hỏa một loạt để uy hiếp tinh thần đối phương, rồi bộ binh mới tiến lên, tấn công quân địch.Luân xa pháo được sử dụng từ lâu, nhưng thực sự là thứ vũ khí mạnh và tiện lợi dưới thời Nguyễn sơ.Năm Minh Mạng thứ 17, 1836, đúc xong Cửu đỉnh, cho khắc hình tượng loại pháo này lên Nhân đỉnh.

NGUYỆT

10. Nguyệt, tức là mặt trăng, chỉ thời gian một tháng. Ngày trước, nhiều nước lấy chu kỳ của “trăng già, trăng non” để làm lịch, gọi là lịch trăng, lịch âm, hiện vẫn còn dùng. Ngày trăng tối nhất gọi là sóc (ba mươi), ngày trăng sáng nhất gọi là vọng (mười lăm). Người xưa giàu tưởng tượng, nhìn lên bóng trăng thấy những quầng đen, xám, họ đã sáng tạo ra những câu chuyện “chị Hằng Nga” giàu màu sắc huyền diệu. Ban đêm, nhìn lên mặt trăng, nhà thiên văn có thể đoán biết thời tiết, sâu bệnh ôn dịch của năm ấy. “Trăng quầng thì hạn, trăng tán thì mưa”...Năm Minh Mạng thứ 17, 1836, đúc xong Cửu đỉnh, cho khắc hình tượng mặt trăng lên Nhân đỉnh.

NHU

11. Nhu, tục danh lúa nếp. Một thứ lúa cho gạo nấu chín rất thơm và dẻo nên gọi là nọa, cũng quen gọi là cơm nếp, là xôi. Lúa nếp cho sản lượng thấp, nên ngày trước người ta trồng ít, chỉ để dâng cúng tổ tiên, thần thánh. Mỗi khi có việc làng, việc họ, hay có đám giỗ thì mới được ăn xôi. Ngoài loại nhu (nếp) này, còn có các loại nếp khác: nếp voi, nếp cau, nếp bò, nếp chốt, nếp hường bầu, nếp lũ, nếp đen, nếp kỳ lân, nếp tây, nếp sáp, nếp than, nếp một, nếp trứng, nếp già, nếp cút, nếp cái, nếp chuột… Loại lúa nếp này đại diện cho hơn 40 loại nếp khác cùng thời, là hạt ngọc trời ban cho thế gian.Năm Minh Mạng thứ 17, đúc xong Cửu đỉnh, cho khắc hình tượng loại lúa nếp này vào Nhân đỉnh.


Để mua ve may bay di huexin vui lòng liên hệ với chúng tôi.

0 nhận xét
Nhãn: , , , , , , , , ,

Kỳ 10: Cùng đi du lịch Huế, thưởng thức những họa tiết khắc trên Cửu Đỉnh Huế - Cao Đỉnh


Nhân đỉnh với các hình khắc Liên Hoa (hoa sen), Hương Giang, Báo
LIÊN HOA
5. Liên Hoa, tục danh hoa sen (27), còn có các tên hà hoa, thủy chi hoa, tịnh khánh hoa, lục nguyệt xuân, phù cừ. Loài hoa thường mọc ở những vùng nước ngập nhiều bùn lầy, nơi bùn lầy càng tanh hôi cây sen càng phát triển. Mặc dù sống ở chốn bùn đất như vậy, nhưng hoa của nó có sắc và hương rất riêng, hột của nó có mùi thơm dịu, hoa và hột cùng kết thành một lượt. Từ cổ xưa, hoa sen đã được các nền văn hóa của nhiều quốc gia chọn làm biểu trưng cho sự tinh khiết, cao quí, thể hiện khí tiết của bậc quân tử. Đặc biệt trong văn hóa Phật giáo, hoa sen có ý nghĩa tượng trưng rất sâu rộng. Phật Đà vốn được gọi là Nhân liên hoa (hoa sen trong loài người), không bị nhiễm bởi phiền não lo buồn thế gian, tuy sống ở thế gian nhưng không dính bụi trần dơ bẩn.
Hàm nghĩa của hoa sen phong phú, nên trong kinh điển Phật giáo thường dùng hoa sen làm vật phẩm cúng dường dâng lên Phật, Bồ Tát. Kinh A Di Đà chép rằng dân chúng ở thế giới cực lạc đều hóa sinh từ hoa sen, do vậy thế giới cực lạc được gọi là nước hoa sen. Trong kinh điển thường dùng hoa sen để ví với 32 tướng tốt của Đức Phật, ví dụ cho sự thù thắng của Pháp môn, trong đó nổi tiếng nhất chính là kinh Diệu Pháp Liên Hoa…
Hột sen được gọi là liên tử, bỏ vào nước ngọt thì chìm, bỏ vào nước mặn thì nổi, vì thế người nấu muối thường dùng hột sen để thử độ mặn. Củ sen gọi là liên ngẫu. Người ta đào củ sen luộc ăn. Còn hột sen nấu chín ăn hoặc để vậy ăn sống cũng được, lại có thể thay thế làm lương thực. Tim sen gọi là liên tâm dùng chữa chứng mất ngủ, tim đập nhanh. Người xưa nói, nhà tiên nhân trữ hột thạch liên và củ sen khô trải đến ngàn năm đem dùng làm thức ăn vẫn rất tuyệt diệu. Hoa sen, hột sen, và gồm cả cây sen đều có thể chế biến làm nhiều món ngon, nhất là món chay. Hột sen có nhiều dược tính được các nhà Đông y dùng làm thuốc bồi bổ, tăng sức, giảm nóng, trừ thấp, mụn nhọt, bổ tỳ, dưỡng tâm, trị chứng mất ngủ, di mộng tinh, cao huyết áp, băng huyết, thổ huyết, chảy máu cam, say nắng... Thực là một loài hoa ích lợi cả hình và tướng.
Năm Minh Mạng thứ 17, đúc xong Cửu đỉnh, cho khắc hình tượng hoa sen lên Nhân đỉnh.
Ở cố đô Huế, có giống sen trồng ở hồ Tịnh Tâm trong Thành Nội, ngon và thơm nổi tiếng, nhưng sản lượng ít, xưa kia chỉ được dùng cho hoàng cung. Ngày nay hột sen hồ Tịnh Tâm vẫn là thứ sen quí hiếm nhất nước.
(27). Một số sách chép là liên tử (hạt sen). Chúng tôi chép đúng chữ khắc trên Nhân đỉnh là liên hoa.
BÁO
6. Báo, tục danh con beo, động vật hoang dã, mới nhìn qua tương tự con “cọp nhỏ” có vằn như đồng tiền vàng. Lại có loại báo lửa, báo hoa mai, báo gấm; thuộc họ mèo, bộ ăn thịt, loại báo có thói quen sống ở vùng rừng thưa, hay thảo nguyên, chúng thường leo lên ở trên chạc ba của những cây to, nằm im quan sát chung quanh để rình mồi. Nó leo trèo giỏi hơn hổ, là loài vật có sức dũng mãnh. Nó cũng được tôn xưng là “chúa sơn lâm”. Thịt và xương đều có dược tính, được Đông y dùng để bồi bổ sức khỏe và trị được các bệnh xương cốt, da lông dùng trong mỹ nghệ trang sức có giá trị cao. Xưa rừng nước ta nhiều tỉnh đều có, nay do biến động nên cá thể còn lại rất ít.
Năm Minh Mạng thứ 17, đúc xong Cửu đỉnh, cho chạm hình tượng con báo lên Nhân đỉnh.
HƯƠNG GIANG
7. Hương Giang, tức sông Hương, sông ở Thừa Thiên Huế; có hai nguồn lớn, đều phát nguyên từ rừng rậm chân dãy Trường Sơn. Nguồn Tả Trạch xuất phát từ mạch Động Dài và khe Sơn Ba chảy về phía tây bắc, khuất khúc qua 55 ngọn thác lớn nhỏ rồi mới đổ về ngã ba Bằng Lãng. Nguồn Hữu Trạch từ phía đông núi Chấn Sơn, chảy qua một chặng đồi núi, vượt 14 ngọn thác rồi mới nhập vào ngã ba Bằng Lãng tạo thành một dòng chính. Tại đây, lòng sông trở nên rộng rãi, nước chảy hiền hòa. Theo cách tính ngày trước thì từ đây trở xuống mới gọi là sông Hương, chảy về đông nam, chảy vòng quanh lăng Cơ Thánh (tức lăng Hưng Tổ Hiếu Khang Hoàng đế) đến phía đông núi Ngọc Trản, rồi lại chảy ngoặt sang phía bắc, qua ngã ba Long Hồ, lại chảy liền xuống ngã ba cầu Lợi Tế, chảy qua trước mặt Kinh thành Huế, qua ngã ba cầu Gia Hội, xuống ngã ba sông Bao Vinh. Từ đây, sông Hương chuyển hướng đông bắc để hội lưu với sông Bồ tại ngã ba Sình và cứ thế dòng sông mở rộng thêm, rồi êm đềm chảy đến bến Thai Dương, qua phía nam thành Trấn Hải, đổ ra cửa Thuận An, dài khoảng 28 cây số. Trên dòng chính có các nhánh sông nhỏ về phía nam với ba ngả: sông Lợi Nông, sông Thiên Lộc (Thọ Lộc) dân gian quen gọi là Như Ý và sông Phổ Lợi. Đoạn sông chảy ngang trước mặt Kinh thành Huế vừa là minh đường vừa như một dải lụa mềm ôm lấy khuôn mặt dịu hiền và kiêu sa của chốn Kinh kỳ.
Năm Minh Mạng thứ 17, đúc xong Cửu đỉnh, cho khắc hình tượng sông Hương vào Nhân đỉnh; đời Thiệu Trị, ngự chế thơ “Thần Kinh nhị thập cảnh”, trong đó có bài “Hương Giang hiểu phiếm”, (Buổi sớm bơi thuyền trên sông Hương) khắc vào bia đá, dựng nhà bia ở bờ sông cạnh Nghinh Lương Đình; năm Tự Đức thứ 3, 1850, đăng liệt vào hàng sông lớn trong điển thờ. Trải qua năm tháng, thời thế thay đổi, sông Hương còn có các tên: sông Lô Dung, sông Dinh, sông Linh Giang, sông Kim Trà, sông Phú Xuân, Tiêu Kim Thủy, sông Trường Tiền, sông Huế… Với những tao nhân mặc khách, văn nhân thi sĩ thì sông Hương còn được gọi: con sông tình yêu, sông tím nhân loại, dòng sông thi ca, dòng sông mở nước, sông thạch xương bồ... Người xưa nói: nước sông Hương đang trong trở đục là báo điềm xấu, còn đang đục trở trong dự báo điềm lành. Không biết thực hư thế nào?
Sông Hương là báu vật vô giá của thiên nhiên ban tặng cho mảnh đất xứ Huế và Tổ quốc Việt Nam. Con sông dùng dằng thướt tha này đã tạo nên sự cảm xúc vô tận của biết bao văn nhân nghệ sĩ trải qua nhiều thế kỷ nay.

Để mua ve may bay di huexin vui lòng liên hệ với chúng tôi.

0 nhận xét
Nhãn: , , , , , , ,

Kỳ 9: Cùng đi du lịch Huế, thưởng thức những họa tiết khắc trên Cửu Đỉnh Huế - Cao Đỉnh


Nhân đỉnh với các hình khắc núi Ngự bình, Khổng tước (chim công) , Đại mại (đồi mồi) Nhân đỉnh - Đỉnh đặt hàng thứ nhất bên trái tượng trưng cho lòng nhân ái
2. Nhân đỉnh - Đỉnh đặt hàng thứ nhất bên trái tượng trưng cho lòng nhân ái

KHỔNG TƯỚC

2. Khổng Tước, tục danh con công, cũng còn gọi là con cuông, là Việt điểu, thuộc họ trĩ, bộ gà; người xưa bảo tiếng gáy của nó thốt ra nghe như tiếng “đô hô”, phần nhiều khổng tước thường sống ở cây to trên núi cao, gò cao để có thể bay dễ dàng. Trước đây, rừng núi các tỉnh nước ta đều có, nhưng nổi tiếng và người ta dễ gặp nhiều là ở vùng Gò Công, tỉnh Tiền Giang, Nam Bộ; vùng đền Cuông, tỉnh Nghệ An; vùng Tu Bông, Vạn Giã, tỉnh Khánh Hòa; các tỉnh Ninh Thuận, Bình Thuận, Gia Lai, Lâm Đồng đều có. Nó là loại chim không chịu ở chốn rừng rậm, làm tổ đơn giản, đẻ vào khoảng tháng 5 tháng 6, mỗi lứa chừng 4 đến 6 trứng có màu trắng đục, kích thước trứng trung bình. Ấp độ 28 ngày thì nở. Ban đêm nó thường ngủ trên cành cây cao gần chỗ kiếm ăn. Ngoài mùa sinh sản công thường sống theo đàn hay từng gia đình. Cả con trống và mái đều không có cựa. Theo các nhà Đông y, thịt chim công có nhiều dược tính công dụng rất cao trong việc giải độc; ngược lại lông của nó có nhiều độc tố không được để đụng chạm vào mắt vì có thể làm mù; mật của chim công rất độc, khi làm thịt người ta phải bỏ mật đi; thịt công chần qua rồi làm nem, là món rất quí trong hàng bát trân, ngày xưa chỉ vua quan mới được dùng món “nem công chả phượng”. Sách An Nam chí chép rằng: Chim công trống sau khi nở được một năm, đuôi dài chừng vài thước, gặp gió thì xòe đuôi để múa, trông óng ánh như bánh xe gấm. Lại có một loại công trắng, lông trắng tinh, toàn thân như tuyết, vào đời vua Minh Mạng, quan quân tỉnh Biên Hòa bắt được một con đem dâng lên.

Năm Minh Mạng thứ 17, đúc xong Cửu đỉnh, cho chạm hình tượng chim công vào Nhân đỉnh.

Do môi trường sống tại các cánh rừng núi nước ta hiện nay bị xâm phạm quá mức; một phần lại bị đơm bẫy nên các cá thể quí hiếm trong đó có loài chim công còn rất ít, hơi khó gặp. Muốn tận mắt xem nó múa thì có thể đến các vườn thú ở Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh may ra sẽ còn gặp. Còn muốn nghiên cứu đặc tính, tìm hiểu kỹ loài công này thì có thể đến các khu bảo tồn của rừng Cúc Phương, tỉnh Ninh Bình hay vườn quốc gia Cát Tiên, tỉnh Lâm Đồng, sẽ thấy.

Công là loại chim tuyệt đẹp, được người xưa quan niệm, loài chim mang ý nghĩa may mắn, cát tường “Khổng tước thái bình”, xứng đáng ở ngôi “hoa hậu của rừng xanh” rất cần được bảo tồn nòi giống.

ĐẠI MẠI

3. Đại Mại, tục danh con đồi mồi, thuộc họ vích, bộ rùa, chúng sống chủ yếu ở biển sâu và cạnh các hải đảo, nhất là những nơi có nhiều san hô; khi lên cạn nó có khả năng nhịn đói dài ngày nhưng phải được giữ ấm bằng nước biển.Đồi mồi có nhiều giá trị kinh tế, thịt rất ngon, có nhiều chất dinh dưỡng, là vị thuốc dùng chữa bệnh nhiệt, mê sảng, kinh giản, ung nhọt; vảy và mai làm hàng mỹ nghệ xuất khẩu. Vùng biển nước ta từ tỉnh Quảng Ninh, Hải Phòng trở vào Đà Nẵng, Bình Định, Khánh Hòa, Bà Rịa - Vũng Tàu, vùng quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, Phú Quốc, chúng sống rất nhiều.Năm Minh Mạng thứ 17, đúc xong Cửu đỉnh, cho khắc hình tượng con đồi mồi lên Nhân đỉnh.

NGỰ BÌNH SƠN

4. Ngự Bình Sơn, tức núi Ngự Bình, lại gọi Hòn Mô ở về phía tây bắc huyện Hương Thủy - nay thuộc phường An Cựu, thành phố Huế. Núi này nổi vọt lên ở quãng đất bằng như bức bình phong, cao chừng 104 mét, được xem là tặng vật trời ban để làm lớp án thứ nhất trấn giữ trước Kinh thành Huế. Tên xưa của núi là Mạc Sơn, hoặc là Bằng Sơn, vì trông nó tựa như một con chim bằng đang đậu, mặt quay về phía bắc với đôi cánh hơi khuỳnh ra hai bên trông thật khỏe. Đời Gia Long xây dựng kinh thành, vua lên núi chơi, thấy đỉnh núi bằng phẳng, hình dáng uy nghi, cân đối, đẹp như một ngọn núi nhân tạo, khắp nơi trồng cây thông, cho tên núi là Ngự Bình. Năm Minh Mạng thứ 2, 1821, nhà vua ngự giá lên chơi, xem xét hình thế, thấy hai bên tả hữu núi đất đứng đối nhau, nhân đấy gọi tên núi phía tả là Tả Phù, núi phía hữu là Hữu Bật. Năm Minh Mạng thứ 17, đúc xong Cửu đỉnh, cho chạm hình tượng núi này vào Nhân đỉnh; năm Mậu Tuất, 1838, nhân tiết Trùng Dương (nhằm ngày 9 tháng 9 âm lịch), nhà vua lại ngự lên núi, cho bá quan theo hầu ăn yến ở trên núi, nhân đấy, ngự soạn bài thơ ghi lại việc này. Tiết Trùng cửu, các vua Nguyễn lên chơi núi bắt đầu từ đấy. Năm Thiệu Trị thứ 4, ngự chế tập thơ “Thần Kinh nhị thập cảnh”, tức Hai mươi bài thơ tả cảnh đẹp ở Kinh sư, trong ấy có bài vịnh núi này, đầu đề là “Bình Lãnh Đăng Cao”. Bài thơ ấy được khắc vào một tấm bia bằng đá thanh khá đẹp, đặt trong một nhà bia xây gạch kiểu vòm cuốn, tọa lạc ngay dưới chân núi. Bây giờ, nhà bia đã hư hỏng, nhưng tấm bia vẫn còn y nguyên.

Theo gương người xưa, ngày nay hễ đến dịp Nguyên tiêu, hay tiết Trùng cửu, người Huế thường rủ nhau lên núi ngắm trăng, làm thơ...

Cạnh núi Ngự Bình nhìn về phía tây nam bên trái có ngọn núi Bân, thường gọi núi Tam Tầng, là chỗ ngày xưa Nguyễn Huệ sai đắp đàn để tế cáo trời đất lên ngôi Hoàng đế, lấy hiệu Quang Trung, rồi xuất đại binh ra Bắc đánh tan 29 vạn quân nhà Thanh xâm lược giải phóng đất nước. Nơi ấy bây giờ người ta xây dựng một công viên văn hóa, có tượng đài vua Quang Trung oai hùng lẫm liệt nhìn ra phương Bắc...Núi Ngự Bình là biểu tượng tự nhiên của vùng đất văn hóa lịch sử vốn được các chúa Nguyễn chọn đóng thủ phủ, đến vua nhà Nguyễn chọn làm kinh đô. Ngự Bình được ví như người tình muôn thuở của nàng sông Hương thơ mộng, mải mê đứng ngắm tình nhân suốt đời. Vì vậy, từ xa xưa nhiều người vẫn thường gọi xứ Huế là miền của “núi Ngự sông Hương”.

Để mua ve may bay di huexin vui lòng liên hệ với chúng tôi.

0 nhận xét
 
Vé máy bay, Mua vé máy bay giá rẻ © 2012 | Designed by Canvas Art, in collaboration with Business Listings , Radio stations and Corporate Office Headquarters