Nghe hò nhớ Huế. Du lịch Huế. Du lịch Việt Nam, du lich Hue. Thong tin du lich Hue.
"Biết ở đâu là cầu Ô Thước
Mênh mông nguyện ước, dưới nước trên trời.
Đêm khuya ngớt tạnh mù khơi,
Khúc sông quạnh vắng, có người sầu riêng."
Tiếng hò theo đò từ xa lại gần rồi lại đi xa, không biết cô lái đò từ đâu đến và đi về đâu, cơ thể dẻo dang làm sao, mặt mũi duyên dáng đến mức nào. Chỉ nghe được lời thổn thức của cô lái đò, gởi gắm tâm tình vào sông, vào nước.
Câu hò xao xuyến, bay bổng, điệu hò chậm rãi, miên man, tiếng hò bâng khuâng, da diết, trong đêm thâu làm chạnh lòng hơn một người.
Người dân xứ Huế dễ rung động với đồng ruộng, sông nước, rừng rậm, cây ngàn. Vì vậy trong đời sống họ hay biểu lộ tâm tình qua những câu hò, điệu hát. Riêng chỉ câu hò đã có cả chục điệu. Trong công việc đồng áng khi đạp nước, đạp lúa, họ cố quên thời gian với những câu hò ô thiết tha, trầm bổng. Khi đập đất, đắp nền, họ trêu chọc nhau với những câu hò hụi lưu loát, linh hoạt. Khi làm đường, đắp đê, họ khuyến khích nhau qua điệu hò nện dồn dập, khẩn trương. Khi kéo bè, kéo gỗ, họ động viên nhau với những điệu hò kéo thác mạnh mẽ, khoẻ khoắn. Khi xay lúa, giã gạo, họ đố đáp nhau qua những câu hò giã gạo sôi động, hào hứng.
"Cây chi trong rừng không lá,
Cá chi dưới biển không xương
Trai nam nhơn giải đặng, thiếp xin kết nghĩa tao khang với chàng...
Cây xương rồng trên rừng không lá,
Con sứa dưới biển là cá không xương,
Anh nay đà đối đặng, em phải kết nghĩa cương thường với anh."
Ở nhà, hò ru con là điệu hò ngọt ngào, êm ái thường ngày mà bà mẹ nào cũng biết. Đứa con nhỏ nào mà không lớn lên với những bài học từ thuở dại thơ.
"Ru con cho théc cho muồi,
Cho mẹ đi chợ mua vôi ăn trầu.
Mua vôi chợ Quán, chợ Cầu,
Mua cau Nam Phổ, mua trầu chợ Dinh.
Chợ Dinh bán áo con trai,
Triều Sơn bán nón, Mậu Tài bán kim."
Trong số các điệu hò nầy, hai điệu được phổ biến rộng rãi có lẽ là hai điệu chèo đò, giống nhau trong câu hát, chỉ có khác nhau chút ít trong cách diễn tả. Hò mái nhì là điệu hò nổi tiếng nhất, buông lơi, man mác, thường được nghe trên dòng sông trầm lặng, độc diễn, nhưng cũng có khi đối đáp giữa hai người cùng nhau tâm sự, kẻ xướng, người xô, gởi lòng vào mây nước trong đêm vắng như hai nhân tình cùng nhau thỏ thẻ mối tình dưới trăng thanh.
Trai: "Em về ngược gió xang mưa
Thuận buồm xuôi gió biệt mông xa chừng.
Em về anh cũng muốn về theo
Lên truông cát nóng lội đèo đá dăm."
Gái: "Cát nóng em đưa lưng em cõng
Đá dăm em lượm sạch đường anh đi."
Gần gũi với hò mái nhì là hò mái đẩy, rắn rỏi, dồn nén, thường vang vọng trong khúc sông nước xiết hay ở đầm phá sóng to, gió lớn, người lái đò phải vững tay giữ chèo cho nên điệu hò bớt lơ lửng mà dứt khoát, chắc nịch.
"Một mình cả chống cả chèo
Không ai tát nước đỡ nghèo một phen."
Cách ngân nga của điệu hò mái nhì, mái đẩy thật là đặc biệt, nhất là khi do một nghệ sĩ người Huế biểu diễn. Câu hò bắt đầu với những ò ơ à ơ dài dăng dẳng tưởng không khi nào ngớt. Rồi khi câu hò thật sự bắt đầu, mới được hai chữ lại còn ờ ơ à ơ, xem như người hò chần chừ không muốn đi ngay đến đích để người nghe thưởng thức tiếng ngân của mình. Ngày nay, như múa rối nước lên đường Nam tiến, hát cải lương lấn bước miền Bắc, ca hò Huế cùng bún bò, bánh bèo,... phân tán khắp đất nước, vượt biên ra cả nước ngoài.
Trước thế kỷ 14, xứ Huế còn là vùng đất của người Chàm. Theo bước chân công chúa Huyền Trân, người Việt từ miền Bắc mới dần dần vào hai châu Ô, Rí khai khẩn đất hoang, sống chung với người dân bản địa. Theo những nhà chuyên khảo, ca hò Huế là hệ quả giao lưu giữa văn hoá Champa và văn hoá Việt Nam. Họ khám phá ra, bên cạnh những điệu nam ai, nam bằng, giai điêu lơ lớ tức là hơi nam giọng ai hay ngũ cung ai của hò mái nhì, mái đẩy (do, re non, fa già, sol, la non) là một kết hợp của ngũ cung đúng miền Bắc (do, ré, fa, sol, la) với ngũ cung oán nhạc Champa (do, mi, fa, sol, la). Đặc biệt là kết hợp nầy chỉ giới hạn ở vùng Bình Trị Thiên, tức là ba tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên, không lan vào miền Nam cũng không tràn ra miền Bắc.
Trong lúc chờ đợi, giao lưu Pháp - Việt, sau gần một thế kỷ sống chung và mấy chục năm chinh chiến, lại trên đường nối tiếp. Riêng đối với Huế, hai Festival 2000 và 2002 vừa qua đã là dịp để cho các đoàn văn nghệ Pháp trình bày với công trình đất Thần kinh một mặt văn hoá nào của xứ sở Rousseau và Voltaire. Ngược lại, những đoàn ca hát Huế, Phú Xuân hay Trường Đại học Nghệ thuật, ban nhạc Cung đình hay nhóm tụng kinh niệm Phật của mấy vị tu sĩ cũng đem lai cho thính giả Pháp những làn điệu xa xăm, có khi lạ thường. Thật ra, những câu hò Huế đã từng được thưởng thức trên sâu khấu Paris, ngay cả trong vở múa nhạc Khúc nguyện cầu trong ấy nghệ sĩ Ea Sola khai thác mặt ảm đạm, âu sầu của các câu hò mái nhì, mái đẩy thay vì sử dụng điệu hò đưa linh thấy như còn não nùng, ai oán hơn, góp phần xoa dịu khổ đau của những kẻ mất mát người thân.
Đêm năm canh ngày sáu khắc con ve kêu giục giã,
Con đương mơ màng sực nghe tiếng mẹ kêu.
Muốn tìm mẹ tìm sao đặng mẹ,
Tây phương đất Phật mẹ đi không về.
Mùa thu năm vừa qua, nhân buổi gặp mặt với nữ sĩ Tôn Nữ Hỷ Khương ở Phật đường Khuông Việt tại Orsay, ngoại ô nam Paris, những người bạn Huế, đồng bào hâm mộ thơ nhạc lại được thưởng thức những câu hò gợi biết bao thương nhớ.
Chiều chiều trước bến Văn Lâu,
Ai ngồi, ai câu, ai sầu, ai thảm,
Ai thương, ai cảm, ai nhớ, ai trông?
Thuyền ai thấp thoáng bên sông
Đưa câu mái đẩy, chạnh lòng nước non.
Ngoài hò mái nhì, mái đẩy bên cạnh thơ văn đủ loại, cụ Ưng Bình còn có những câu hò giã gạo có tính cách trào phúng, ít được biết.
Áo Lơ-muya với giày cao gót
Theo em, theo chị cái mốt tân thời.
Vỏ ngoài che đậy mà chơi,
Tháo ngay trong dạ để gương đời soi chung.
Thấy ra hò thật là một thể loại dân ca rất được truyền tụng ở xứ Huế, một kho tàng văn nghệ dân gian phong phú, có thể là nơi tập trung nhiều điệu hò nhất trong một diện tích nhỏ hẹp miền Trung. Người con dân nào đã sống lên ở Huế mà không nuôi dưỡng trong lòng một bầu hò đầy kỷ niệm thơ mộng.
Để mua ve may bay di hue, xin vui lòng liên hệ với chúng tôi.