Hiển thị các bài đăng có nhãn hàng không giá rẻ. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn hàng không giá rẻ. Hiển thị tất cả bài đăng
Nhãn: , , , , , ,

Kỳ 11: Cùng đi du lịch Huế, thưởng thức những họa tiết khắc trên Cửu Đỉnh Huế - Cao Đỉnh


Lòn bon, Luân xa pháo,Nguyệt, Nhu

NAM TRÂN

8. Nam Trân, tục danh cây lòn bon(28) có nơi gọi là lòn bong, cao độ vài mét, mùa xuân nở hoa, mùa thu quả chín; vỏ mỏng, cùi thịt trắng, vị thơm ngọt; vùng núi Quảng Nam rất nhiều. Về trái cây này, có một chuyện ở vùng Quảng Nam kể rằng: khi Nguyễn Vương còn đang ẩn náu ở nguồn sông Ô Gia, vì thiếu lương thực nên nhiều ngày chỉ ăn cầm bữa bằng quả lòn bon. Vì vậy mà sau này, khi Nguyễn Vương lên ngôi vua Gia Long, người ta đã đặt tên cho cây trái này là phụng quân mộc (cây gặp vua). Chắc chắn cũng vì cái tích ấy nên khi đúc Cửu đỉnh, vua Minh Mạng cho khắc hình tượng cây lòn bon vào Nhân đỉnh. (28). Đại Nam nhất thống chí, Sài Gòn xb (1962); Hà Nội xb (1969), đều không chú cây nam trân khắc ở đỉnh nào.

LUÂN XA PHÁO

9. Luân Xa Pháo, tức là loại pháo khá lớn đặt trên bệ đỡ có hai bánh xe, được chế tạo dưới triều vua Gia Long, Minh Mạng. Loại súng này thường được kéo theo các đơn vị quân đội bộ binh, cơ động nhanh. Trong chiến đấu, luân xa pháo được binh lính đẩy dàn lên trước hàng quân, khai hỏa một loạt để uy hiếp tinh thần đối phương, rồi bộ binh mới tiến lên, tấn công quân địch.Luân xa pháo được sử dụng từ lâu, nhưng thực sự là thứ vũ khí mạnh và tiện lợi dưới thời Nguyễn sơ.Năm Minh Mạng thứ 17, 1836, đúc xong Cửu đỉnh, cho khắc hình tượng loại pháo này lên Nhân đỉnh.

NGUYỆT

10. Nguyệt, tức là mặt trăng, chỉ thời gian một tháng. Ngày trước, nhiều nước lấy chu kỳ của “trăng già, trăng non” để làm lịch, gọi là lịch trăng, lịch âm, hiện vẫn còn dùng. Ngày trăng tối nhất gọi là sóc (ba mươi), ngày trăng sáng nhất gọi là vọng (mười lăm). Người xưa giàu tưởng tượng, nhìn lên bóng trăng thấy những quầng đen, xám, họ đã sáng tạo ra những câu chuyện “chị Hằng Nga” giàu màu sắc huyền diệu. Ban đêm, nhìn lên mặt trăng, nhà thiên văn có thể đoán biết thời tiết, sâu bệnh ôn dịch của năm ấy. “Trăng quầng thì hạn, trăng tán thì mưa”...Năm Minh Mạng thứ 17, 1836, đúc xong Cửu đỉnh, cho khắc hình tượng mặt trăng lên Nhân đỉnh.

NHU

11. Nhu, tục danh lúa nếp. Một thứ lúa cho gạo nấu chín rất thơm và dẻo nên gọi là nọa, cũng quen gọi là cơm nếp, là xôi. Lúa nếp cho sản lượng thấp, nên ngày trước người ta trồng ít, chỉ để dâng cúng tổ tiên, thần thánh. Mỗi khi có việc làng, việc họ, hay có đám giỗ thì mới được ăn xôi. Ngoài loại nhu (nếp) này, còn có các loại nếp khác: nếp voi, nếp cau, nếp bò, nếp chốt, nếp hường bầu, nếp lũ, nếp đen, nếp kỳ lân, nếp tây, nếp sáp, nếp than, nếp một, nếp trứng, nếp già, nếp cút, nếp cái, nếp chuột… Loại lúa nếp này đại diện cho hơn 40 loại nếp khác cùng thời, là hạt ngọc trời ban cho thế gian.Năm Minh Mạng thứ 17, đúc xong Cửu đỉnh, cho khắc hình tượng loại lúa nếp này vào Nhân đỉnh.


Để mua ve may bay di huexin vui lòng liên hệ với chúng tôi.

0 nhận xét
Nhãn: , , , , , , , , ,

Kỳ 10: Cùng đi du lịch Huế, thưởng thức những họa tiết khắc trên Cửu Đỉnh Huế - Cao Đỉnh


Nhân đỉnh với các hình khắc Liên Hoa (hoa sen), Hương Giang, Báo
LIÊN HOA
5. Liên Hoa, tục danh hoa sen (27), còn có các tên hà hoa, thủy chi hoa, tịnh khánh hoa, lục nguyệt xuân, phù cừ. Loài hoa thường mọc ở những vùng nước ngập nhiều bùn lầy, nơi bùn lầy càng tanh hôi cây sen càng phát triển. Mặc dù sống ở chốn bùn đất như vậy, nhưng hoa của nó có sắc và hương rất riêng, hột của nó có mùi thơm dịu, hoa và hột cùng kết thành một lượt. Từ cổ xưa, hoa sen đã được các nền văn hóa của nhiều quốc gia chọn làm biểu trưng cho sự tinh khiết, cao quí, thể hiện khí tiết của bậc quân tử. Đặc biệt trong văn hóa Phật giáo, hoa sen có ý nghĩa tượng trưng rất sâu rộng. Phật Đà vốn được gọi là Nhân liên hoa (hoa sen trong loài người), không bị nhiễm bởi phiền não lo buồn thế gian, tuy sống ở thế gian nhưng không dính bụi trần dơ bẩn.
Hàm nghĩa của hoa sen phong phú, nên trong kinh điển Phật giáo thường dùng hoa sen làm vật phẩm cúng dường dâng lên Phật, Bồ Tát. Kinh A Di Đà chép rằng dân chúng ở thế giới cực lạc đều hóa sinh từ hoa sen, do vậy thế giới cực lạc được gọi là nước hoa sen. Trong kinh điển thường dùng hoa sen để ví với 32 tướng tốt của Đức Phật, ví dụ cho sự thù thắng của Pháp môn, trong đó nổi tiếng nhất chính là kinh Diệu Pháp Liên Hoa…
Hột sen được gọi là liên tử, bỏ vào nước ngọt thì chìm, bỏ vào nước mặn thì nổi, vì thế người nấu muối thường dùng hột sen để thử độ mặn. Củ sen gọi là liên ngẫu. Người ta đào củ sen luộc ăn. Còn hột sen nấu chín ăn hoặc để vậy ăn sống cũng được, lại có thể thay thế làm lương thực. Tim sen gọi là liên tâm dùng chữa chứng mất ngủ, tim đập nhanh. Người xưa nói, nhà tiên nhân trữ hột thạch liên và củ sen khô trải đến ngàn năm đem dùng làm thức ăn vẫn rất tuyệt diệu. Hoa sen, hột sen, và gồm cả cây sen đều có thể chế biến làm nhiều món ngon, nhất là món chay. Hột sen có nhiều dược tính được các nhà Đông y dùng làm thuốc bồi bổ, tăng sức, giảm nóng, trừ thấp, mụn nhọt, bổ tỳ, dưỡng tâm, trị chứng mất ngủ, di mộng tinh, cao huyết áp, băng huyết, thổ huyết, chảy máu cam, say nắng... Thực là một loài hoa ích lợi cả hình và tướng.
Năm Minh Mạng thứ 17, đúc xong Cửu đỉnh, cho khắc hình tượng hoa sen lên Nhân đỉnh.
Ở cố đô Huế, có giống sen trồng ở hồ Tịnh Tâm trong Thành Nội, ngon và thơm nổi tiếng, nhưng sản lượng ít, xưa kia chỉ được dùng cho hoàng cung. Ngày nay hột sen hồ Tịnh Tâm vẫn là thứ sen quí hiếm nhất nước.
(27). Một số sách chép là liên tử (hạt sen). Chúng tôi chép đúng chữ khắc trên Nhân đỉnh là liên hoa.
BÁO
6. Báo, tục danh con beo, động vật hoang dã, mới nhìn qua tương tự con “cọp nhỏ” có vằn như đồng tiền vàng. Lại có loại báo lửa, báo hoa mai, báo gấm; thuộc họ mèo, bộ ăn thịt, loại báo có thói quen sống ở vùng rừng thưa, hay thảo nguyên, chúng thường leo lên ở trên chạc ba của những cây to, nằm im quan sát chung quanh để rình mồi. Nó leo trèo giỏi hơn hổ, là loài vật có sức dũng mãnh. Nó cũng được tôn xưng là “chúa sơn lâm”. Thịt và xương đều có dược tính, được Đông y dùng để bồi bổ sức khỏe và trị được các bệnh xương cốt, da lông dùng trong mỹ nghệ trang sức có giá trị cao. Xưa rừng nước ta nhiều tỉnh đều có, nay do biến động nên cá thể còn lại rất ít.
Năm Minh Mạng thứ 17, đúc xong Cửu đỉnh, cho chạm hình tượng con báo lên Nhân đỉnh.
HƯƠNG GIANG
7. Hương Giang, tức sông Hương, sông ở Thừa Thiên Huế; có hai nguồn lớn, đều phát nguyên từ rừng rậm chân dãy Trường Sơn. Nguồn Tả Trạch xuất phát từ mạch Động Dài và khe Sơn Ba chảy về phía tây bắc, khuất khúc qua 55 ngọn thác lớn nhỏ rồi mới đổ về ngã ba Bằng Lãng. Nguồn Hữu Trạch từ phía đông núi Chấn Sơn, chảy qua một chặng đồi núi, vượt 14 ngọn thác rồi mới nhập vào ngã ba Bằng Lãng tạo thành một dòng chính. Tại đây, lòng sông trở nên rộng rãi, nước chảy hiền hòa. Theo cách tính ngày trước thì từ đây trở xuống mới gọi là sông Hương, chảy về đông nam, chảy vòng quanh lăng Cơ Thánh (tức lăng Hưng Tổ Hiếu Khang Hoàng đế) đến phía đông núi Ngọc Trản, rồi lại chảy ngoặt sang phía bắc, qua ngã ba Long Hồ, lại chảy liền xuống ngã ba cầu Lợi Tế, chảy qua trước mặt Kinh thành Huế, qua ngã ba cầu Gia Hội, xuống ngã ba sông Bao Vinh. Từ đây, sông Hương chuyển hướng đông bắc để hội lưu với sông Bồ tại ngã ba Sình và cứ thế dòng sông mở rộng thêm, rồi êm đềm chảy đến bến Thai Dương, qua phía nam thành Trấn Hải, đổ ra cửa Thuận An, dài khoảng 28 cây số. Trên dòng chính có các nhánh sông nhỏ về phía nam với ba ngả: sông Lợi Nông, sông Thiên Lộc (Thọ Lộc) dân gian quen gọi là Như Ý và sông Phổ Lợi. Đoạn sông chảy ngang trước mặt Kinh thành Huế vừa là minh đường vừa như một dải lụa mềm ôm lấy khuôn mặt dịu hiền và kiêu sa của chốn Kinh kỳ.
Năm Minh Mạng thứ 17, đúc xong Cửu đỉnh, cho khắc hình tượng sông Hương vào Nhân đỉnh; đời Thiệu Trị, ngự chế thơ “Thần Kinh nhị thập cảnh”, trong đó có bài “Hương Giang hiểu phiếm”, (Buổi sớm bơi thuyền trên sông Hương) khắc vào bia đá, dựng nhà bia ở bờ sông cạnh Nghinh Lương Đình; năm Tự Đức thứ 3, 1850, đăng liệt vào hàng sông lớn trong điển thờ. Trải qua năm tháng, thời thế thay đổi, sông Hương còn có các tên: sông Lô Dung, sông Dinh, sông Linh Giang, sông Kim Trà, sông Phú Xuân, Tiêu Kim Thủy, sông Trường Tiền, sông Huế… Với những tao nhân mặc khách, văn nhân thi sĩ thì sông Hương còn được gọi: con sông tình yêu, sông tím nhân loại, dòng sông thi ca, dòng sông mở nước, sông thạch xương bồ... Người xưa nói: nước sông Hương đang trong trở đục là báo điềm xấu, còn đang đục trở trong dự báo điềm lành. Không biết thực hư thế nào?
Sông Hương là báu vật vô giá của thiên nhiên ban tặng cho mảnh đất xứ Huế và Tổ quốc Việt Nam. Con sông dùng dằng thướt tha này đã tạo nên sự cảm xúc vô tận của biết bao văn nhân nghệ sĩ trải qua nhiều thế kỷ nay.

Để mua ve may bay di huexin vui lòng liên hệ với chúng tôi.

0 nhận xét
Nhãn: , , , , , , ,

Kỳ 9: Cùng đi du lịch Huế, thưởng thức những họa tiết khắc trên Cửu Đỉnh Huế - Cao Đỉnh


Nhân đỉnh với các hình khắc núi Ngự bình, Khổng tước (chim công) , Đại mại (đồi mồi) Nhân đỉnh - Đỉnh đặt hàng thứ nhất bên trái tượng trưng cho lòng nhân ái
2. Nhân đỉnh - Đỉnh đặt hàng thứ nhất bên trái tượng trưng cho lòng nhân ái

KHỔNG TƯỚC

2. Khổng Tước, tục danh con công, cũng còn gọi là con cuông, là Việt điểu, thuộc họ trĩ, bộ gà; người xưa bảo tiếng gáy của nó thốt ra nghe như tiếng “đô hô”, phần nhiều khổng tước thường sống ở cây to trên núi cao, gò cao để có thể bay dễ dàng. Trước đây, rừng núi các tỉnh nước ta đều có, nhưng nổi tiếng và người ta dễ gặp nhiều là ở vùng Gò Công, tỉnh Tiền Giang, Nam Bộ; vùng đền Cuông, tỉnh Nghệ An; vùng Tu Bông, Vạn Giã, tỉnh Khánh Hòa; các tỉnh Ninh Thuận, Bình Thuận, Gia Lai, Lâm Đồng đều có. Nó là loại chim không chịu ở chốn rừng rậm, làm tổ đơn giản, đẻ vào khoảng tháng 5 tháng 6, mỗi lứa chừng 4 đến 6 trứng có màu trắng đục, kích thước trứng trung bình. Ấp độ 28 ngày thì nở. Ban đêm nó thường ngủ trên cành cây cao gần chỗ kiếm ăn. Ngoài mùa sinh sản công thường sống theo đàn hay từng gia đình. Cả con trống và mái đều không có cựa. Theo các nhà Đông y, thịt chim công có nhiều dược tính công dụng rất cao trong việc giải độc; ngược lại lông của nó có nhiều độc tố không được để đụng chạm vào mắt vì có thể làm mù; mật của chim công rất độc, khi làm thịt người ta phải bỏ mật đi; thịt công chần qua rồi làm nem, là món rất quí trong hàng bát trân, ngày xưa chỉ vua quan mới được dùng món “nem công chả phượng”. Sách An Nam chí chép rằng: Chim công trống sau khi nở được một năm, đuôi dài chừng vài thước, gặp gió thì xòe đuôi để múa, trông óng ánh như bánh xe gấm. Lại có một loại công trắng, lông trắng tinh, toàn thân như tuyết, vào đời vua Minh Mạng, quan quân tỉnh Biên Hòa bắt được một con đem dâng lên.

Năm Minh Mạng thứ 17, đúc xong Cửu đỉnh, cho chạm hình tượng chim công vào Nhân đỉnh.

Do môi trường sống tại các cánh rừng núi nước ta hiện nay bị xâm phạm quá mức; một phần lại bị đơm bẫy nên các cá thể quí hiếm trong đó có loài chim công còn rất ít, hơi khó gặp. Muốn tận mắt xem nó múa thì có thể đến các vườn thú ở Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh may ra sẽ còn gặp. Còn muốn nghiên cứu đặc tính, tìm hiểu kỹ loài công này thì có thể đến các khu bảo tồn của rừng Cúc Phương, tỉnh Ninh Bình hay vườn quốc gia Cát Tiên, tỉnh Lâm Đồng, sẽ thấy.

Công là loại chim tuyệt đẹp, được người xưa quan niệm, loài chim mang ý nghĩa may mắn, cát tường “Khổng tước thái bình”, xứng đáng ở ngôi “hoa hậu của rừng xanh” rất cần được bảo tồn nòi giống.

ĐẠI MẠI

3. Đại Mại, tục danh con đồi mồi, thuộc họ vích, bộ rùa, chúng sống chủ yếu ở biển sâu và cạnh các hải đảo, nhất là những nơi có nhiều san hô; khi lên cạn nó có khả năng nhịn đói dài ngày nhưng phải được giữ ấm bằng nước biển.Đồi mồi có nhiều giá trị kinh tế, thịt rất ngon, có nhiều chất dinh dưỡng, là vị thuốc dùng chữa bệnh nhiệt, mê sảng, kinh giản, ung nhọt; vảy và mai làm hàng mỹ nghệ xuất khẩu. Vùng biển nước ta từ tỉnh Quảng Ninh, Hải Phòng trở vào Đà Nẵng, Bình Định, Khánh Hòa, Bà Rịa - Vũng Tàu, vùng quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, Phú Quốc, chúng sống rất nhiều.Năm Minh Mạng thứ 17, đúc xong Cửu đỉnh, cho khắc hình tượng con đồi mồi lên Nhân đỉnh.

NGỰ BÌNH SƠN

4. Ngự Bình Sơn, tức núi Ngự Bình, lại gọi Hòn Mô ở về phía tây bắc huyện Hương Thủy - nay thuộc phường An Cựu, thành phố Huế. Núi này nổi vọt lên ở quãng đất bằng như bức bình phong, cao chừng 104 mét, được xem là tặng vật trời ban để làm lớp án thứ nhất trấn giữ trước Kinh thành Huế. Tên xưa của núi là Mạc Sơn, hoặc là Bằng Sơn, vì trông nó tựa như một con chim bằng đang đậu, mặt quay về phía bắc với đôi cánh hơi khuỳnh ra hai bên trông thật khỏe. Đời Gia Long xây dựng kinh thành, vua lên núi chơi, thấy đỉnh núi bằng phẳng, hình dáng uy nghi, cân đối, đẹp như một ngọn núi nhân tạo, khắp nơi trồng cây thông, cho tên núi là Ngự Bình. Năm Minh Mạng thứ 2, 1821, nhà vua ngự giá lên chơi, xem xét hình thế, thấy hai bên tả hữu núi đất đứng đối nhau, nhân đấy gọi tên núi phía tả là Tả Phù, núi phía hữu là Hữu Bật. Năm Minh Mạng thứ 17, đúc xong Cửu đỉnh, cho chạm hình tượng núi này vào Nhân đỉnh; năm Mậu Tuất, 1838, nhân tiết Trùng Dương (nhằm ngày 9 tháng 9 âm lịch), nhà vua lại ngự lên núi, cho bá quan theo hầu ăn yến ở trên núi, nhân đấy, ngự soạn bài thơ ghi lại việc này. Tiết Trùng cửu, các vua Nguyễn lên chơi núi bắt đầu từ đấy. Năm Thiệu Trị thứ 4, ngự chế tập thơ “Thần Kinh nhị thập cảnh”, tức Hai mươi bài thơ tả cảnh đẹp ở Kinh sư, trong ấy có bài vịnh núi này, đầu đề là “Bình Lãnh Đăng Cao”. Bài thơ ấy được khắc vào một tấm bia bằng đá thanh khá đẹp, đặt trong một nhà bia xây gạch kiểu vòm cuốn, tọa lạc ngay dưới chân núi. Bây giờ, nhà bia đã hư hỏng, nhưng tấm bia vẫn còn y nguyên.

Theo gương người xưa, ngày nay hễ đến dịp Nguyên tiêu, hay tiết Trùng cửu, người Huế thường rủ nhau lên núi ngắm trăng, làm thơ...

Cạnh núi Ngự Bình nhìn về phía tây nam bên trái có ngọn núi Bân, thường gọi núi Tam Tầng, là chỗ ngày xưa Nguyễn Huệ sai đắp đàn để tế cáo trời đất lên ngôi Hoàng đế, lấy hiệu Quang Trung, rồi xuất đại binh ra Bắc đánh tan 29 vạn quân nhà Thanh xâm lược giải phóng đất nước. Nơi ấy bây giờ người ta xây dựng một công viên văn hóa, có tượng đài vua Quang Trung oai hùng lẫm liệt nhìn ra phương Bắc...Núi Ngự Bình là biểu tượng tự nhiên của vùng đất văn hóa lịch sử vốn được các chúa Nguyễn chọn đóng thủ phủ, đến vua nhà Nguyễn chọn làm kinh đô. Ngự Bình được ví như người tình muôn thuở của nàng sông Hương thơ mộng, mải mê đứng ngắm tình nhân suốt đời. Vì vậy, từ xa xưa nhiều người vẫn thường gọi xứ Huế là miền của “núi Ngự sông Hương”.

Để mua ve may bay di huexin vui lòng liên hệ với chúng tôi.

0 nhận xét
Nhãn: , , , , , ,

Kỳ 8: Cùng đi du lịch Huế, thưởng thức những họa tiết khắc trên Cửu Đỉnh Huế - Cao Đỉnh


Cao đỉnh với các hình khắc Biển Đông, Long (Rồng), Thiết Mộc (Lim)


ĐÔNG HẢI

16. Đông Hải, chỉ vùng biển nằm phía Đông thuộc chủ quyền của Việt Nam (26), thông với Thái Bình Dương ở phía bắc qua eo Basni. Trong biển Đông có quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Ở vùng biển này từ cuối tháng 4 đến đầu tháng 11 hàng năm, thường có gió bão mạnh, nhất là ở khu vực quần đảo Trường Sa, nên còn gọi là quần đảo Bão Tố. Biển Đông đúng là kho tài nguyên vô tận của nước ta. Từ xa xưa, từ thuở Hồng Bàng khai quốc, người Việt đã biết tiến ra làm chủ biển Đông.
Năm Minh Mạng thứ 17, 1836, đúc xong Cửu đỉnh, nhà vua cho khắc hình tượng biển Đông lên Cao đỉnh.
(26). Chỉ vùng biển phía Đông thuộc hải phận của nước ta, không bao gồm cả vùng biển Đông rộng lớn như ngày nay.

LONG

17. Long, thường gọi là rồng, một linh vật được huyền thoại hóa mang đầy tính siêu nhiên, đứng đầu trong tứ linh: “long, lân, qui, phụng”, xuất hiện hàng ngàn năm trước, được nâng lên thành vật biểu tượng trong văn hóa phương Đông; nó được xem là chúa tể cai quản vùng sông nước (thường được gọi là Long vương). Theo các nhà nghiên cứu ngôn ngữ, chữ rồng trong tiếng Việt và chữ long trong từ Hán Việt đều bắt nguồn từ krong, krông, klong trong tiếng Đông Nam Á cổ có nghĩa là sông nước. Nó được xem là con vật kết hợp giữa cá sấu và rắn, sinh ra dưới nước rồi bay vút lên trời mà không cần có cánh, miệng vừa phun nước, vừa phun lửa. Một số nhà khảo cổ học khẳng định rằng: “Rồng là con vật đặc thù chung cho tất cả các dân tộc Việt và chính từ đây nó đã đi vào văn hóa Trung Hoa”. Cụ thể hơn, đối với người Việt Nam, truyền thuyết Con Rồng - Cháu Tiên đã có từ thời họ Hồng Bàng lập quốc. Theo tư duy của người Việt cổ thì Rồng - Tiên là một cặp đôi âm dương mà thành, để giải thích cội nguồn tổ tiên của người Việt, trong đó tiên biểu trưng cho giống chim, ở núi non; còn rồng là con vật từ cá sấu và rắn biến thành, ở sông biển. Biểu tượng rồng đã ăn sâu vào đời sống văn hóa Việt. Con rồng nhanh chóng trở thành biểu tượng của quyền lực, gắn với hình ảnh tối thượng của ông vua. Trong tiến trình lịch sử, con rồng của mỗi thời cũng đã thay đổi ít nhiều về đường nét hình dáng. Có thể nói, rồng là một biểu tượng của sự linh thiêng, cương trực, mạnh mẽ, sự vươn lên của một dân tộc. Theo truyền thuyết, cá chép hóa rồng là bởi do kiên trì tu luyện mà thành. Ở vào thời nhà Đinh, bất kể con vật gì, nếu “chịu” tu luyện thành chính quả cũng có thể hóa rồng được.
Năm 1010, vua Lý Công Uẩn đã chọn đất Thăng Long (rồng bay) để định đô nước Đại Việt. Có thể vua Lý đã thấy “dấu vết” rồng tàng cư ở đây sẽ thịnh phát. Cùng với những quan niệm ấy, mà ở nước Nam ta, nhiều vùng đất được lấy chữ long để đặt tên, như: Hoàng Long, Thăng Long, Hạ Long, Bái Tử Long, Long Hưng, Cửu Long, Hàm Rồng, Hàm Long, Vĩnh Long, Kim Long... Người cũng có mạng rồng, con vật được chọn đứng hàng thứ năm trong địa chi của 12 con giáp.
Năm Minh Mạng thứ 17, đúc xong Cửu đỉnh, nhà vua cho chạm hình tượng con rồng vào Cao đỉnh.
Theo Sách đỏ Việt Nam, hiện nay ở nước ta có loài rồng đất sinh sống, còn có tên rồng tạng, tò te, thuộc họ nhông, bộ có vảy; thường sống ở hang hốc, trong các bụi cây... Rồng đất có giá trị thẩm mỹ cao, nuôi trong các vườn thú; một số nơi còn dùng nó làm nguồn thực phẩm hoặc dược phẩm rất quí.

THIẾT MỘC

18. Thiết Mộc, tục danh cây gỗ lim, thứ gỗ đứng ở nhóm đầu trong các loại gỗ rừng (đinh, lim, sến, táu), sắc gỗ lim đen tím, bền rắn như sắt đá, người ta thường dùng để làm đình, chùa, đền, xây cung điện, dựng nhà, đóng thuyền, bắc cầu… Thật là thượng phẩm trong loài mộc. Ở trong rừng sâu các tỉnh đều có. Đầu triều Minh Mạng định lệ cấm dân gian mua bán gỗ lim. Sau “nới lỏng” định lệ thì thổ sản tỉnh nào có gỗ lim phải đóng thuế rất cao. Trong lịch sử chống ngoại xâm phương Bắc, từ Ngô Vương Quyền, sang Lê Đại Hành, đến Trần Hưng Đạo đều đã dùng loại thiết mộc này làm cọc nhọn để đóng xuống lòng sông Bạch Đằng, phá tan thuyền giặc.
Năm Minh Mạng thứ 17, đúc xong Cửu đỉnh, cho khắc hình tượng cây gỗ lim vào Cao đỉnh.

Để mua ve may bay di huexin vui lòng liên hệ với chúng tôi.

0 nhận xét
Nhãn: , , , , , ,

Kỳ 7: Cùng đi du lịch Huế, thưởng thức những họa tiết khắc trên Cửu Đỉnh Huế - Cao Đỉnh


Cao đỉnh- các hình chạm Hổ và Ba La Mật

BA LA MẬT

14. Ba La Mật, tục danh quả mít; còn có tên nẵng gia kiết, quả to như cái đấu, gai mềm, vị ngọt và thơm, hột có thể luộc ăn; khi mít còn xanh người ta vẫn hái để chế biến làm món. Theo Đông y, mít có dược tính hay ích khí, khử phiền. Có hai loại: mít khô (còn gọi mít dai, hoặc ráo) và mít ướt (mít mật); lại có thứ mít nài, mít tố nữ, quả nhỏ hơn, ít múi nhưng mùi vị rất đặc biệt. Cây mít gọi là ba la mộc, chất gỗ có sắc mà bền, có thể dùng làm rường cột, xẻ ván, đóng tủ bàn, chạm tượng thờ, và đóng được nhiều đồ gia dụng khác. Các tỉnh đều có, từ Nghệ An trở vào nam Trung Bộ, miền gần núi trồng được nhiều hơn. Năm Minh Mạng thứ 17, đúc xong Cửu đỉnh, cho chạm hình tượng cây mít có quả vào Cao đỉnh.
HỔ
15. Hổ, tục danh con cọp, còn gọi con hùm, là động vật hoang dã ăn thịt, thuộc họ mèo; dân gian kiêng tránh thường gọi là ông ba mươi, là khái. Một số cổ thư còn chép là ô đồ, là đại trùng, là lý nhĩ. Hổ sống chủ yếu ở các khu rừng già, hoạt động rất rộng, lan ra cả rừng tái sinh, cây bụi, lau lách, trảng cỏ cao. Mỗi ngày đêm nó có thể đi xa hơn 30 cây số; hổ thường sống độc thân. Vùng rừng thấp nước ta, trước đây tỉnh nào cũng có, đôi khi chúng lẻn xuống tận miền đồng bằng rình bắt mồi và bắt cả người. Bộ lông hổ có nền màu vàng nhạt hoặc màu da bò. Toàn thân có nhiều sọc ngang màu đen hoặc nâu đen. Đuôi có vòng nâu đen không đều từ gốc đuôi đến mút đuôi. Thỉnh thoảng cũng có cọp trắng. Qua nghiên cứu, các nhà động vật học thấy được chu kỳ sinh lý của loài thú này: Tiết lập thu thì hổ hay kêu; tháng trọng đông thì hổ mới giao cấu. Hổ sinh con tự nhiên nhưng hơi khó nuôi nên cá thể không sống được nhiều như loài thú khác. Hổ thích ăn thịt chó, ăn rồi thì say, thịt chó được xem như là rượu của hổ vậy. Thịt hổ có thể làm thuốc trị chứng âm tà. Xương cốt hổ đem nấu cao thành cao hổ cốt, dược tính của nó có tác dụng chữa trị khá nhiều bệnh mãn tính, nhất là bệnh xương khớp; còn da được dùng nhiều trong kỹ nghệ. Do hổ có sức mạnh và nhanh nhẹn, dân gian thường quan niệm hổ là vị chúa cai quản núi rừng và gọi là chúa sơn lâm. Hổ có những miếng thế võ cực hiểm, ra đòn là quyết hạ ngay đối phương, tính rất quyết đoán. Thời quân chủ, các vị tướng đứng đầu quan võ cầm quân ra trận, bậc tướng soái được cấp “hổ phù” để điều binh khiển tướng, thể hiện uy quyền, sức mạnh của bậc chủ soái.Hổ dù có sức mạnh, nhưng con người vẫn đủ bản lĩnh để “thuần hóa” được chúng, nhiều con hổ trở thành “diễn viên” làm các tiết mục xiếc. Trong 12 con giáp, hổ (dần) được xếp đứng hàng thứ ba của địa chi. Hổ có tính hay quên, nên không thù dai. Cổ nhân thường bảo: Người cầm tinh hổ, tính hay nóng nảy, ra cửa đụng phải ngọn lá thì mọi chuyện quên ngay. E chỉ là câu nói phỏng mà thôi. Ở tỉnh Thừa Thiên xưa có làng Phù Bài, thuộc huyện Hương Thủy; tỉnh Quảng Trị có làng Thủy Ba thuộc huyện Vĩnh Linh nổi tiếng về “nghề bắt cọp”, nay vẫn lưu truyền.Năm Minh Mạng thứ 17, đúc xong Cửu đỉnh, cho chạm hình tượng hổ vào Cao đỉnh.Nằm về phía tây của Kinh thành Huế, ở phường Thủy Biều vẫn còn dấu tích Hổ Quyền, đây thực chất là một chuồng nuôi hổ, và còn có chức năng của một đấu trường hết sức độc đáo hiếm thấy trên thế giới; đấu trường của những cuộc tử chiến giữa voi và hổ được xây dựng dưới thời vua Minh Mạng.

Kỳ 5: Cùng đi du lịch Huế, thưởng thức những họa tiết khắc trên Cửu Đỉnh Huế - Cao Đỉnh

Để mua ve may bay di huexin vui lòng liên hệ với chúng tôi.

0 nhận xét
Nhãn: , , , , , , ,

Kỳ 6: Cùng đi du lịch Huế, thưởng thức những họa tiết khắc trên Cửu Đỉnh Huế - Cao Đỉnh


Cao đỉnh với hình khắc Lúa tẻ, Đa sách thuyền và Kênh Vĩnh Tế Thoại Ngọc Hầu

CANH

11. Canh, tục danh lúa tẻ. Người xưa nói: lúa xay ra gạo ăn không dẻo gọi là canh, một loại lúa rất thơm, cho gạo hảo hạng, nuôi sống con người đứng đầu các loại lúa tẻ; đại diện cho hơn 47 loại lúa tẻ thời ấy, đều là hạt ngọc nhà trời. (Ở đồng làng An Cựu xưa có trồng giống lúa tẻ hương đạo, tục danh nhe vàng, dân địa phương quen gọi là de, hột hơi dài, sắc gạo rất trắng mà thơm và mềm cơm; tháng 10 cấy, tháng 3 chín, hàng năm có tiến vua. Dân gian có câu: Tôm rằn bóc vỏ bỏ đuôi / Gạo de An Cựu để nuôi mẹ già. Quả là thứ gạo ngon. Đồng ruộng ở miền Bắc có giống tám thơm; miền Nam có nàng hương, đều là những thứ lúa cho gạo hảo hạng).

Năm Minh Mạng thứ 17, đúc xong Cửu đỉnh, cho khắc hình tượng loại lúa tẻ này vào Cao đỉnh.

 ĐA SÁCH THUYỀN

12. Đa Sách Thuyền, chỉ về một loại thuyền khá lớn có nhiều dây buồm (một âm là Đa Tác Thuyền) (có sách chú là thuyền nhiều đáy?), được sản xuất dưới triều vua Gia Long và Minh Mạng. Vì thuyền lớn nên cũng gọi là tàu. Loại thuyền này dùng đi theo sông lớn, đi biển dài ngày và có khả năng đi xa, vượt cả đại dương. Đời vua Minh Mạng có chiếc tàu d’Ajsas mua từ châu Âu về, trông khá giống loại thuyền này. Đa sách thuyền đạt trình độ cao về kỹ thuật đóng thuyền buồm của Việt Nam dưới thời nhà Nguyễn.

Năm Minh Mạng thứ 17, đúc xong Cửu đỉnh, cho chạm hình tượng loại thuyền đa sách này lên Cao đỉnh.
VĨNH TẾ HÀ

13. Vĩnh Tế Hà, tức là sông Vĩnh Tế, người miền Nam quen gọi là kênh (kinh) Vĩnh Tế. Nguyên trước đây, vùng này còn sình lầy, cả bộ lẫn thủy đi lại rất khó khăn, ông Nguyễn Văn Thoại, sinh quán tại Điện Bàn, Quảng Nam - sau vào định cư ở Vĩnh Long, có công phò tá chúa Nguyễn Ánh, được triều đình Huế trọng dụng, phong tước Hầu rất sớm, dân trong vùng quen gọi là Thoại Ngọc Hầu; năm 1818, ông được vua Gia Long bổ làm Trấn thủ Vĩnh Thanh (gồm cả Long Xuyên và Cần Thơ). Tại đây ông cùng quan quân địa phương thiết kế và đốc suất dân binh đào kênh Đông Xuyên rất ích lợi; kênh ấy được nhà vua cho gọi theo tên ông là Thoại Hà; nhân thấy bờ phía đông gần đấy có ngọn Khâu Sơn, bèn cho tên là Thoại Sơn để biểu dương công lao của ông, lại cho dựng miếu thờ sơn thần ở chân núi. Đầu năm 1820, ông lại được lệnh đào con kênh nối từ vùng Châu Đốc đến xứ Hà Tiên. Trong thời gian đào kênh, bà Châu Thị Vĩnh Tế, quê ở Vĩnh Long, vợ của Thoại Ngọc Hầu đã hết lòng lo liệu cùng chồng đốc suất dân binh để đào bằng xong con kênh này. Cảm phục trước công sức khó nhọc của bà, sau khi công trình hoàn thành, vua Minh Mạng đã lấy tên của bà để đặt cho con kênh này là Vĩnh Tế.

Kênh Vĩnh Tế là một công trình thủy lợi, do chính Thoại Ngọc Hầu thiết kế và tự thân đốc suất dân binh làm việc ngày đêm, với số nhân công lên đến 80.000 người. Thời gian đào kéo dài gần 5 năm (1820-1824). Sự thành công này đem lại lợi ích nhiều mặt cho vùng biên giới Tây Nam của Tổ quốc. Đương thời khi kênh đào xong, vua Minh Mạng lấy làm hoan hỉ, khen ngợi công sức của dân binh trong vùng và ông bà Thoại Ngọc Hầu, lại sai dựng bia ở bên bờ sông để ghi sự tích. Kênh Vĩnh Tế lúc mới đào rộng 15 tầm, sâu 6 thước, dài hơn 200 dặm. Kênh này hiện có nhiều đoạn được nới rộng, sâu và dài hơn xưa, chảy từ Châu Đốc, Tri Tôn, tỉnh An Giang xuống huyện Kiên Lương gặp sông Giang Thành chảy tới cửa Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang; đoạn kênh chảy qua Hà Tiên còn được gọi là rạch Hà Tiên. Kênh chảy song song với đường biên giới Việt Nam - Campuchia cách đường biên giới 3 cây số. Có lẽ trong lịch sử mở nước, đây là trường hợp duy nhất ở nước ta, cả hai vợ chồng đều có công khai sông dẫn thủy đã được triều đình lấy tên để đặt tên cho công trình mà họ đã làm nên; đặc biệt là công sức đóng góp của người phụ nữ đối với đất nước. Vua Minh Mạng cho khắc hình tượng Vĩnh Tế Hà lên Cao đỉnh, thờ trước sân chầu Thế Tổ Miếu. Dưới chân núi Thoại Sơn, từ buổi ấy nhân dân đã lập đền thờ hai ông bà Thoại Ngọc Hầu, bốn mùa hương khói tri ân.

Để mua ve may bay di huexin vui lòng liên hệ với chúng tôi.

0 nhận xét
Nhãn: , , , , , , , ,

Kỳ 5: Cùng đi du lịch Huế, thưởng thức những họa tiết khắc trên Cửu Đỉnh Huế - Cao Đỉnh


Cao đỉnh Huế với hình khắc Hành, Đại pháo, Mặt trời

THÔNG 蔥 8. Thông (蔥), tục danh cây rau hành, còn có tên là cây hống, là thái bá, hòa sự thảo, lộc thai. Tính của củ hành có chất hăng lại hay phát dẫn tà khí ra ngoài; củ hành, lá rụng ống, đều ăn được, muối làm dưa ăn ngon hơn, các nhà Đông y nói, có thể dùng củ và lá để làm thuốc chữa đau đầu, thoát mồ hôi. Hành là món gia vị hương hoa nhưng không thể thiếu trong các món ăn có chất tanh. Người ta nấu món thịt lợn bắt buộc phải có củ hành kèm theo mới tuyệt: “Con lợn ủn ỉn mua hành cho tôi”. Hành là giống rau đem lại sự thơm tho cho người trồng của ruộng đồng nước Việt. Nhưng vì có mùi hăng, người tu đạo Phật không thường dùng.

Năm Minh Mạng thứ 17, đúc xong Cửu đỉnh, cho chạm hình tượng cây hành vào Cao đỉnh.
ĐẠI PHÁO 大礮
9. Đại Pháo (大礮), thường gọi đại bác, là loại súng lớn, được sản xuất dưới thời vua Gia Long và Minh Mạng. Khi bắn đại pháo, người ta phải lau nòng súng, nạp thuốc súng ở phía sau và dẫn ra một ngòi nổ cháy chậm, quả đạn được đẩy ngược vào nòng súng, người pháo thủ châm ngòi bằng mồi lửa, thuốc súng cháy, phát nổ tạo nên sức nén và sinh ra một lực rất mạnh, đẩy viên đạn bay đi. Loại đại pháo này thường dùng để công phá thành trì, bắn vào hạm thuyền, hay dùng để phát hiệu lệnh. Thời Nguyễn sơ, đây là loại vũ khí uy dũng, tiếng nổ lớn, làm cho đối phương phải khiếp sợ. Vì thế mà người xưa xem đại bác như vị Thần công.
Đại diện cho loại đại pháo này, người ta thấy, hai bên cửa ra vào Hoàng thành phía trước Ngọ Môn, hiện còn “Cửu vị Thần công” được đúc xong vào năm 1804 dưới thời vua Gia Long “sừng sững chầu hai bên có Tả đại tướng quân và Hữu đại tướng quân”; chín khẩu “Thần súng” này lấy theo tứ thời Xuân, Hạ, Thu, Đông cùng ngũ hành Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ mà đặt tên. Khi đúc xong, khắc sự tích và tên vào thân súng. Đây thực sự là những tác phẩm độc đáo vừa mang tính nghệ thuật tinh xảo, vừa đạt trình độ kỹ thuật cao, thể hiện thành tựu về nghề đúc đồng Việt Nam từ lâu đời. Đồng thời “Thần công” ẩn chứa những nét văn hóa tâm linh mà uy dũng trong việc hộ quốc.

Nhiều khẩu đại bác “có công yểm trợ” bắn trúng quân thù, chiến thắng trận mạc được triều đình phong tặng tước vị và “phong chức” rất cao, chẳng hạn như “Thần oai vô địch đại tướng quân, Thượng tướng quân vô địch”... (Thống lĩnh quân đội tối cao, quyền uy không khác gì thần thánh, chẳng có gì chống lại được). Xứng đáng là “vua chiến trường” thời ấy. Dưới triều Minh Mạng, mỗi đơn vị bộ binh (gọi là vệ, mỗi vệ khoảng 500 người) được trang bị hai khẩu Thần công (loại nhỏ), 200 khẩu súng điểu thương và 21 ngọn cờ. Tùy theo vị trí nhiều pháo đài, trên các vọng lâu của Kinh thành Huế, các tỉnh, trấn đều có đặt các loại Thần công to, nhỏ khác nhau.
Năm Minh Mạng thứ 17, đúc xong Cửu đỉnh, cho khắc hình tượng đại pháo này vào Cao đỉnh.
Do quan niệm súng đại bác như là vị thần hộ vệ, mà thời xưa có nhiều quan võ khi được nhà vua phong chức, hay các sĩ tử trước khi thi võ, hoặc sắp phải ra chiến trận thường sắm lễ vật đến dâng lên vị thần này. Cầu mong “Thần công” che chở cho họ khỏi bị đường tên mũi đạn, ra trận là đánh thắng quân thù, thi đỗ thứ hạng cao và thăng tiến nhanh trên đường binh nghiệp.
NHẬT 日
10. Nhật (日), tức là mặt trời, chỉ ban ngày, ánh sáng. Theo quan niệm của người xưa, mặt trời tượng trưng cho ngôi cửu ngũ chí tôn, bậc thiên tử. Ở một số nước, người ta tôn thờ mặt trời như vị thần tối thượng, chủ nhân của mọi giới, nên việc tế thần Mặt Trời hàng năm là một lễ nghi rất quan trọng. Theo Kinh Dịch, trời thuộc quẻ Càn, mặt trời thuộc quẻ Ly, biểu hiện của sự ấm áp, sáng sủa khắp mọi nơi. Một ngày mới, mặt trời lên, sinh khí tràn ngập cõi nhân gian vũ trụ. Người xưa bảo: “ân của vua ban như ánh nắng mặt trời chiếu rọi vậy”.

Năm Minh Mạng thứ 17, 1836, đúc xong Cửu đỉnh, nhà vua cho khắc hình tượng mặt trời lên Cao đỉnh.
Thời hiện đại, ánh nắng mặt trời chiếu rọi khắp nơi cũng là tài nguyên năng lượng vô giá.


Để mua ve may bay di huexin vui lòng liên hệ với chúng tôi.

0 nhận xét
Nhãn: , , , , , , , ,

Kỳ 4: Cùng đi du lịch Huế, thưởng thức những họa tiết khắc trên Cửu Đỉnh Huế - Cao Đỉnh


Cao đỉnh với hình khắc Trầm hương và sông Bến Nghé

Trầm hương

6. Trầm Hương, tục danh cây dó bầu, thường gọi cây trầm. Do khi người ta bỏ xuống nước thì nó chìm nên gọi là trầm. Chất dầu của cây trầm rất thơm, có thể bào chế làm thuốc trị thấp khử tà, lại là dược liệu bổ dương được cả Đông lẫn Tây y đều lấy dùng rất nhiều. Miền rừng núi từ Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị trở vào nam Trung Bộ các tỉnh đều có. Sách Nghệ An phong thổ ký chép rằng: cây dó già cỗi, tinh dịch kết lại thành hương, cây còn sống mà đẽo lấy thì gọi là sinh trầm có thể dùng làm thuốc, cây đã chết mà lấy gọi là tử trầm, chỉ dùng chế chất thơm, lấy lúc cây đã mục nát gọi là tốc hương, là mật hương. Loại cây này giống cây liễu to, muốn lấy hương thì đốn ngả cây đã lâu năm, cội rễ cành đốt đều có màu sắc khác nhau, ruột cây rắn và đen, bỏ xuống nước mà chìm gọi là trầm hương, nổi ngang với mặt nước gọi là kê cốt hương, gốc cây là hoàng thục hương, thân cây là sạn hương, cành nhỏ rắn chắc chưa nát là thanh quế hương, gốc và mắt cứng mà lớn là mã đề hương.

Người đi khai thác trầm hương rất gian truân, có khi bỏ cả mạng ở rừng sâu núi thẳm, đúng như câu nói: “Ăn của rừng rưng rưng nước mắt”. Người đi tìm trầm thường kiêng cữ nhiều thứ: trước ngày vào rừng họ thường kiêng ăn thịt những con vật linh, cấm gần phụ nữ, tránh nói năng bậy bạ; khi đến cửa rừng, hay vào ngày gặp được cây dó, người ta thường đặt lễ dâng cúng thần mộc, nên cây trầm còn được người dân miền núi gọi là Cây Thần.
Năm 1830, triều đình cho đặt hộ trầm hương ở Phú Yên, sai mộ dân bên ngoài sung vào. Lấy 30 người làm định ngạch, mỗi người hàng năm nộp thuế 1 cân trầm hương.
Năm Minh Mạng thứ 17, đúc xong Cửu đỉnh, cho chạm hình tượng cây trầm hương vào Cao đỉnh.
Trầm hương Việt Nam được các nước theo Phật giáo, Hồi giáo dùng nhiều trong tế lễ, được xem là một loại dược liệu cao cấp, dùng để chế thuốc trị hen suyễn, tăng cường sinh lực. Trong Tây y, trầm là thành phần cơ bản để làm biệt dược điều trị chứng ung thư bàng quang. Cây trầm cũng còn được dùng tạc tượng thờ, làm vật trấn yểm khí tà, xua đuổi ma quái...

Thời trước, trầm hương nổi tiếng hơn cả là ở Vạn Giã, Khánh Hòa. Những năm tám mươi của thế kỷ XX, tỉnh Bình Trị Thiên cũ có lúc xuất khẩu ra nước ngoài lên đến hàng trăm tấn, ngành xuất khẩu trầm bấy giờ được mệnh danh là “vua trầm” Việt Nam. Do cây trầm có nhiều ích lợi mà ngày nay người dân các tỉnh miền Trung và Tây Bắc Việt Nam đều có trồng, có nơi trồng xen canh đến hàng chục hécta. Nhưng để cây dó bầu ấy có tinh dịch làm dược liệu cao cấp thì nó cần phải sinh trưởng đến hàng chục năm sau.
 Ngưu chử giang

 7. Ngưu Chử Giang, tục gọi là sông Bến Nghé, sông ở vùng thành phố Hồ Chí Minh; xưa sông này chảy qua huyện Tân Bình nên còn có tên sông Tân Bình. Khi người Pháp chiếm cứ Sài Gòn và Lục tỉnh, họ gọi là sông Sài Gòn; nguồn sông chảy từ gần Bương Đầm - Lộc Ninh xuống phía nam song song với sông Bé, chảy đến Nhà Bè thì gặp sông Đồng Nai, còn gọi là sông Phước Long, rồi chảy vào cửa biển Cần Giờ. Sông Bến Nghé có nhiều chi lưu, chi phía tây nam chảy trong địa giới tỉnh Gia Định xưa, chi đông bắc chảy ra phía Biên Hòa. Sông rộng và sâu, dài khoảng 256 cây số, ngay từ đầu thế kỷ XIX, tàu thuyền các trấn, tỉnh, trong nước và của các nước ngoài đã ra vào sông này tấp nập, biến nơi đây thành một đô hội sầm uất.

Tục truyền, sông Ngưu Chử xưa kia hai bên bờ còn hoang vắng, ở đây có rất nhiều cá sấu sinh sống, chúng thường rượt đuổi cắn nhau, tiếng kêu như tiếng trâu nghé rống, cho nên người ta mới gọi tên như thế. Còn theo sách Gia Định thành thông chí của Trịnh Hoài Đức, thì nơi đây vốn có cái bến ngày xưa thường có nhiều con nghé (trâu) đến uống nước nên mới gọi tên này. Như vậy, cứ theo hai cách giải thích trên thì vào lúc người Việt mới lập dinh trấn ở đây, vùng đất này còn hoang sơ lắm, và có rất nhiều giống cá sấu, trâu bò rừng sinh sống thành từng bầy đàn đông đúc. Địa danh Bến Nghé cũng được dùng để chỉ thành Gia Định, tức thành Bến Nghé, thành này xưa tiếp giáp với thủ phủ Sài Gòn, và là trung tâm thương mại Chợ Lớn do Hoa kiều lập nên.

Năm Minh Mạng thứ 17, 1836, đúc xong Cửu đỉnh, cho chạm hình tượng sông Bến Nghé lên Cao đỉnh. Năm Tự Đức thứ 3, 1850, sông Bến Nghé được liệt vào hàng sông lớn nổi tiếng của đất nước, được đưa vào trong tự điển, hàng năm triều đình cử quan viên đến tế thần sông.

Khi người Pháp đánh cướp nước ta, họ cho tàu chiến tiến vào Sài Gòn theo đường sông này. Nhà thơ yêu nước - Cụ Đồ Chiểu đã viết về Bến Nghé buổi ấy như sau:

“Bến Nghé của tiền tan bọt nước
Đồng Nai tranh ngói nhuốm màu mây”...

Về sau cụ được người nhà đưa về lánh nạn ở Ba Tri thuộc tỉnh Bến Tre ngày nay.

Bến Nghé thực sự là con sông lớn đã tạo nên nhiều chi mạch giao thông tiện lợi cho tàu thuyền tấp nập lui tới thành Gia Định buôn bán. Từ đây có đường thông ra biển Đông; rất thuận lợi cho các tỉnh miền Đông Nam Bộ nước ta trong sự hội nhập với thế giới ngày nay.

Để mua ve may bay di huexin vui lòng liên hệ với chúng tôi.

0 nhận xét
Nhãn: , , , , , , , ,

Kỳ 2 - Những họa tiết khắc trên Cửu Đỉnh Huế


Cao đỉnh - tượng trưng cho sự vĩ đại (biểu tượng cho Vua Gia Long)

1. Cao Đỉnh - Đỉnh đặt ở chính giữa tượng trưng cho sự vĩ đại TRĨ 稚

2. Trĩ (稚), tức là con chim trĩ, là loại chim quí. Do đặc điểm tự nhiên, ngày xưa người ta thường bảo, chỗ của nó bay hay đậu là chỗ rất sạch, nghĩa là nơi ấy môi trường trong lành; loài chim trĩ có cá tính rất lạ, nếu chẳng may bị bẫy mắc lưới liền tự tử, nên nó được xem là loài chim có khí tiết ngay thẳng. Chim trĩ trống có mào, đuôi dài, thân nhiều màu sắc, hay chọi nhau. Sách Cầm kinh nói: con nào lông đỏ màu vàng gọi là miết trĩ, lông trắng gọi là hãn trĩ, lông đen gọi là hải trĩ, lông ở trên lưng có nhiều màu sắc gọi là phỉ thúy trĩ, loài giống rất nhiều, nhưng giống chim trĩ trắng là quí hơn cả. Sách An Nam chí chép rằng: Thời vua Thành Vương nhà Chu, người ở xứ Việt Thường sang dâng chim trĩ trắng; thời vua Quang Vũ nhà Hán, các quận Nhật Nam và Cửu Chân đều có dâng chim trĩ trắng. Sách Lễ ký chép rằng: “Chim trĩ bay xuống biển hóa thành con sò”, tức là nói về loài chim này. Xem vậy đủ biết chim trĩ là loài chim quí hiếm ví như “thần điểu” từ ngàn xưa đã có nhiều ở nước ta.Năm Minh Mạng thứ 17, đúc xong Cửu đỉnh, cho chạm hình tượng chim trĩ vào Cao đỉnh.

Theo Sách đỏ Việt Nam, giống chim trĩ có trĩ sao, trĩ đỏ, thuộc bộ gà. Nhìn chung loài chim trĩ có kích thước lớn, đuôi dài, nhất là con đực, bộ lông của nó có nhiều màu sắc đẹp. Cả con mái và con trống đều không có cựa. Chim trĩ sao kiếm ăn và làm tổ ở rừng thường xanh um trên các đỉnh và sườn đồi có độ dốc khác nhau, phổ biến hơn ở dưới 700 mét; chim trĩ đỏ thì chọn nơi thích hợp, quen hơn là vùng đồi núi thấp, không bao xa nương rẫy, không gặp rừng quá rậm.Chim trĩ là giống chim quí, ở Việt Nam trước đây thường gặp nhiều tại cánh rừng các tỉnh Cao Bằng, Lạng Sơn, Lào Cai, Bắc Cạn, Hòa Bình, Ninh Bình, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Đắc Lắc, Gia Lai, Kontum, Lâm Đồng...Chim trĩ là loài chim rất có giá trị khoa học cao, thẩm mỹ đẹp. Nó là một loài chim có “nhan sắc” nổi tiếng, được các nước trên thế giới rất ưa chuộng và nuôi nhiều để làm cảnh. Người xưa thường quan niệm, chim trĩ cũng là loài chim đem lại rất nhiều may mắn tốt lành.

Ngày nay, có rất nhiều nguyên nhân khiến rừng bị xâm hại, vì thế mà cá thể chim trĩ ở trên thế giới và Việt Nam còn lại rất ít, có nguy cơ mất giống nòi, nên nó đã được khẩn cấp đưa vào sách đỏ cần được bảo vệ.
MIẾT 鱉
3. Miết (鱉), tục danh con trạnh (25); lại gọi con đoàn ngư, hay con hà bá tòng sự. Con trạnh nhìn qua tương tự con rùa, bước đi của nó nặng nề, rù rờ, khập khiễng mà xa đến ngàn dặm cũng tới. Lại có một loại gọi là con nguyên. Các sách xưa chép rằng: con nguyên gần giống con trạnh mà to, thân rộng hơn, có con lớn từ 1 đến 2 trượng, đó là con vật đứng đầu các loài có mai vậy, tục gọi con giải. Sách Gia Định thành thông chí của Trịnh Hoài Đức chép rằng: Miết còn có tên nữa là hôn, đầu nhọn mà ở ria có thịt, tính hay cắn, thịt của nó có vị béo và ngon, con nhỏ càng ngon hơn. Nên tục ngữ có câu: “rùa dùng cân, trạnh dùng lạng”, ý nói rùa nên dùng con to, còn trạnh (miết) dùng con nhỏ, thịt mới ngon. Các nhà Đông y xem thịt và máu của con trạnh có nhiều dược tính, bổ dưỡng, có tác dụng nhanh với người lớn tuổi yếu chân, suy lực. Vùng sông nước của xứ nào ở Việt Nam hễ có vực sâu thường có trạnh sống. Lại có giống trạnh (hôn) sống ở biển, giá trị kinh tế rất cao.

Năm Minh Mạng thứ 17, đúc xong Cửu đỉnh, cho chạm hình tượng con trạnh vào Cao đỉnh.Ở Huế bây giờ, có câu chuyện kể về con trạnh, mang màu sắc thần bí, rằng mấy chục năm qua, những người dân hành hương hay sang đò sông Hương, đoạn ngang chân núi Ngọc Trản, để lên điện Hòn Chén dâng hương cầu nguyện Thần nữ Thiên Y A Na và Mẫu Liễu Hạnh, thỉnh thoảng vẫn gặp con vật này nổi lập lờ trên mặt nước để thở, thân hình nó to như “tấm phản”, không hiểu là con gì mà hơi giống rùa, lại trông giống con ba ba. Nên người ta mới có câu: “Đầu ghềnh có con ba ba. Kẻ kêu con trạnh, người la con rùa”, hóa ra con này, tức con trạnh. Tương truyền, dưới triều Đồng Khánh, nhà vua cơ thể bị suy nhược lại hay mê tín, ông tự nhận mình là đệ tử của Nữ thần thờ ở điện này, nên đã cho người đem về thả ở vực sâu dưới chân núi Hòn Chén mấy con trạnh. Bây giờ thì chúng đã quá già. Vì vậy mà nhiều người xem con trạnh cũng là loài “vật thiêng” trong tứ linh. Và cái vực sâu của sông Hương dưới chân Hòn Chén, nơi mà “mấy con trạnh” đang sống cũng được xem là một huyệt chủ rất linh diệu của cuộc đất đã góp phần làm nên vị trí Thần kinh xứ Huế.



Để mua ve may bay di huexin vui lòng liên hệ với chúng tôi.

0 nhận xét
Nhãn: , , , , , , , ,

Kỳ 1 - Di Sản Văn Hóa Huế: Những họa tiết khắc trên cửu đỉnh


1. Cao đỉnh (高鼎); 2. Nhân đỉnh (仁鼎); 3. Chương đỉnh (章鼎); 4. Anh đỉnh (英鼎); 5. Nghị đỉnh (毅鼎); 6. Thuần đỉnh (純鼎); 7. Tuyên đỉnh (宣鼎); 8. Dụ đỉnh (宣鼎); 9. Huyền đỉnh (玄鼎). Cửu đỉnh ở Huế

Mùa hạ tháng 5, năm Bính Thân, niên hiệu Minh Mạng thứ 17 (TL từ 14/6 đến 13/7/1836), người ta đã đúc xong chín cái đỉnh đồng. Vua Minh Mạng bảo Nội các rằng: “Nay đúc đỉnh, khắc các hình tượng núi, sông, và mọi vật cũng không cần phải khắc đủ cả, duy phải khắc rõ tên, hiệu và xứ sở để tiện nhận xét. Đó là cái ý người xưa vẽ hình mọi vật”...

...Những họa tiết ẩn dụ về hình tượng mặt trời, mặt trăng, gió, mưa, sấm, chớp, sông, núi, cửa biển, cửa quan, cây gỗ, loài hoa, chim chóc, loài cá, ngũ cốc, linh vật, rau, đậu, củ, quả, xe, thuyền, vũ khí… của đất nước được tinh chọn, phân ra từng nhóm, mỗi nhóm lại chọn ra chín loại, được sắp xếp và tuân thủ theo “quan niệm, triết học, chức năng, vị trí của mỗi đỉnh”.

...Nhóm họa tiết về hình tượng dưới đây chúng tôi căn cứ vào thực tế của từng hình tượng được đúc khắc theo bố cục của từng đỉnh để phân loại, sắp xếp; do vậy, có thể không đồng nhất với cách phân loại, sắp xếp của một số tác giả khác:

Cửu Đỉnh.

Chín tên của Cửu đỉnh:

1. Cao đỉnh (高鼎); 2. Nhân đỉnh (仁鼎); 3. Chương đỉnh (章鼎);
4. Anh đỉnh (英鼎); 5. Nghị đỉnh (毅鼎); 6. Thuần đỉnh (純鼎);
7. Tuyên đỉnh (宣鼎); 8. Dụ đỉnh (宣鼎); 9. Huyền đỉnh (玄鼎).

Chín tinh tú và thiên nhiên trong vũ trụ:

1. Nhật (Mặt trời); 2. Nguyệt (Mặt trăng); 3. Ngũ Tinh (Năm ngôi sao); 4. Bắc Đẩu (Sao Bắc Đẩu); 5. Nam Đẩu (Sao Nam Đẩu); 6. Phong (Gió); 7. Vân (Mây); 8. Lôi (Sấm); 9. Vũ (Mưa).

Chín ngọn núi lớn:

1. Thiên Tôn Sơn (Núi Thiên Tôn ở Thanh Hóa); 2. Ngự Bình Sơn (Núi Ngự Bình ở Thừa Thiên Huế); 3. Thương Sơn (Núi Thương ở Thừa Thiên Huế); 4. Hồng Sơn (Núi Hồng Lĩnh ở Hà Tĩnh); 5. Tản Viên Sơn (Núi Tản Viên ở thành phố Hà Nội); 6. Duệ Sơn (Núi Duệ ở Thừa Thiên Huế); 7. Đại Lĩnh (Núi Đại Lãnh ranh giới giữa Phú Yên và Khánh Hòa); 8. Hải Vân Quan (Cửa quan trên đèo Hải Vân giữa Đà Nẵng và Thừa Thiên Huế); 9. Hoành Sơn (Đèo Ngang, giữa Quảng Bình và Hà Tĩnh).

Chín sông lớn:

1. Ngưu Chử Giang (Sông Bến Nghé ở thành phố Hồ Chí Minh); 2. Hương Giang (Sông Hương ở tỉnh Thừa Thiên Huế); 3. Linh Giang (Sông Gianh ở Quảng Bình); 4. Mã Giang (Sông Mã ở Thanh Hóa); 5. Lô Hà (Sông Lô chảy qua các tỉnh Hà Giang, Tuyên Quang, Phú Thọ, Vĩnh Phúc); 6. Bạch Đằng Giang (Sông Bạch Đằng ở Quảng Ninh và thành phố Hải Phòng); 7. Thạch Hãn Giang (Sông Thạch Hãn ở Quảng Trị); 8. Lam Giang (Sông Lam ở Nghệ An); 9. Nhĩ Hà (Sông Hồng ở các tỉnh Bắc Bộ và thành phố Hà Nội).

Chín sông đào và sông khác:

1. Vĩnh Tế Hà (Kênh đào Vĩnh Tế ở An Giang và Kiên Giang); 2. Vĩnh Điện Hà (Sông đào Vĩnh Điện ở Quảng Nam); 3. Vệ Giang (Sông Vệ ở Quảng Ngãi); 4. Lợi Nông Hà (Sông đào Lợi Nông ở Thừa Thiên Huế); 5. Phổ Lợi Hà (Sông đào Phổ Lợi ở Thừa Thiên Huế); 6. Vĩnh Định Hà (Sông đào Vĩnh Định ở Quảng Trị); 7. Cửu An Hà (Sông đào Cửu An ở Hưng Yên); 8. Thao Hà (Sông Thao ở Phú Thọ); 9. Ngân Hán (Sông Ngân ở thiên trung).

Chín cửa biển, cửa quan, biển, cầu vồng:

1. Đông Hải (Biển phía Đông của Việt Nam); 2. Nam Hải (Biển phía Nam của Việt Nam); 3. Tây Hải (Biển phía Tây của Việt Nam); 4. Thuận An Hải Khẩu (Cửa biển Thuận An ở Thừa Thiên Huế); 5. Cần Giờ Hải Khẩu (Cửa biển Cần Giờ ở thành phố Hồ Chí Minh); 6. Đà Nẵng Hải Khẩu (Cửa biển Đà Nẵng ở thành phố Đà Nẵng); 7. Quảng Bình Quan (Cửa thành ở Quảng Bình); 8. Hồng (Cầu vồng); 9. Cửa sông Tiền, sông Hậu (ở Nam Bộ).

Chín con thú lớn bốn chân:

1. Hổ (con cọp); 2. Tượng (con voi); 3. Báo (con beo); 4. Tê (con tê giác); 5. Mã (con ngựa); 6. Ly Ngưu (con bò tót); 7. Dương (con dê); 8. Thỉ (con heo, lợn); 9. Sơn Mã (lộc mã - ngựa núi, con hươu).

Chín con vật linh:

1. Long (con rồng); 2. Miết (con trạnh); 3. Nhân Ngư (cá voi); 4. Linh Qui (rùa thiêng); 5. Ngạc Ngư (cá sấu); 6. Đại Mại (con đồi mồi); 7. Nhiêm Xà (con trăn); 8. Ngoan (rùa biển); 9. Mãng Xà (rắn lớn).

Chín loài chim:

1. Khổng Tước (chim công); 2. Trĩ (chim trĩ); 3. Khôi Hạc (chim hạc); 4. Uyên Ương (chim uyên ương); 5. Hoàng Oanh (chim vàng anh); 6. Tần Cát Liễu (chim nhồng); 7. Kê (con gà trống); 8. Anh Vũ (chim vẹt); 9. Thốc Thu (chim ông già).

Chín loại cây lương thực:

1. Canh (lúa tẻ); 2. Nhu (lúa nếp); 3. Lục Đậu (hạt đậu xanh); 4. Đậu Khấu (quả đậu khấu); 5. Biển Đậu (quả đậu ván); 6. Hoàng Đậu (đậu nành); 7. Địa Đậu (lạc - đậu phụng); 8. Bạch Đậu (đậu trắng); 9. Nam Trân (trái lòn bon).

Chín loại rau, củ:

1. Thông (cây rau hành, hống, thái bá); 2. Cửu (cây rau hẹ, chung nhũ, cửu thái); 3. Giới (cây củ kiệu, hỏa thông, thái chi); 4. Uất Kim (củ nghệ, mã mê, khương hoàng); 5. Giới (cây rau cải); 6. Hương Nhu (cây rau é, hương nhung); 7. Tử Tô (cây tía tô, xích tô); 8. Khương (củ gừng); 9. Toán (củ tỏi, huân, hồ).

Chín loại hoa:

1. Tử Vi Hoa (hoa tử vi, phạ dưỡng, hồng vi hoa, bá tử kinh...); 2. Mạt Lỵ (hoa nhài - lài, nại hoa, mạt lệ, mộc lệ hoa...); 3. Mai Khôi Hoa (hoa hồng, hoa thích mai,...); 4. Hải Đường Hoa (hoa hải đường); 5. Quỳ Hoa (hoa quỳ); 6. Trân Châu Hoa (hoa hòe - hoa sói); 7. Thuấn Hoa (hoa mộc cận); 8. Liên Hoa (hoa sen); 9. Ngũ Diệp Lan (hoa lan năm lá).

Chín loại cây lấy quả:

1. Ba La Mật (quả mít); 2. Am La (quả xoài); 4. Lê (quả lê); 5. Mai (quả mơ - mận trắng); 6. Xích Ty Đào (đào đất - đào tơ); 7. Súc Sa Mật (sa nhân); Long Nhãn (quả nhãn); 8. Lệ Chi (quả vải); 9. Miên (bông gòn).
Chín loại dược liệu quí:
1. Trầm Hương (cây dó bầu); 2. Kỳ Nam (chất dầu đặc biệt của cây dó bầu); 3. Tang (cây dâu); 4. Tô Hợp (cây tô hợp lấy dầu); 5. Yến Oa (ở đây hiểu là tổ yến); 6. Phù Lưu (cây trầu không); 7. Tân Lang (cây cau có quả); 8. Quế (vỏ cây quế - sâm quế); 9. Nam Sâm (sâm nam - sâm ta).

Chín loại cây thân gỗ:

1. Thiết Mộc (cây gỗ lim); 2. Thuận Mộc (cây gỗ huện); 3. Tử Mộc (cây gỗ kiền kiền); 4. Đàn Mộc (cây hoàng đàn); 5. Nam Mộc (cây gỗ sao); 6. Tòng (cây gỗ tùng - cây thông); 7. Bách (cây gỗ bá - trắc bách diệp); 8. Tất Mộc (cây gỗ lấy nhựa sơn); 9. Ngô Đồng (cây có hoa mọc thành chùm màu hồng tím khác với cây vông đồng).

Chín loại vũ khí:
1. Đại Pháo (đại bác - súng lớn); 2. Luân Xa Pháo (pháo lớn đặt trên bệ đỡ có bánh xe); 3. Điểu Thương (súng bắn chim); 4. Trường Thương (giáo dài); 5. Bài Đao (bảng gác đao kiếm - siêu đao); 6. Nỏ (cung); 7. Phác Đao (cây phạng - loại đao thường); 8. Hỏa Phún Đồng (ống đồng đốt đạn, ống hỏa lệnh); 9. Hồ Điệp Tử (đạn bươm bướm: khi nổ tung giống hình nở tổ của con bươm bướm nên có tên vậy).
Chín loài cá, ốc, côn trùng:

1. Lục Hoa Ngư (cá tràu, cá đô); 2. Đăng Sơn Ngư (con cá rô); 3. Thạch Thủ Ngư (cá đầu đá, có sách phiên là cá mú?); 4. Bạng (con ngao); 5. Hậu ngư (con sam); 6. Cáp (khôi cáp - con sò huyết); 7. Thiền (con ve sầu, con điêu, tề nữ); 8. Hồ Gia Tử (con đuôn dừa); 9. Quế Đố (con cà cuống, đà đuống...).
Chín loại thuyền, xe, cờ:

1. Đa Sách Thuyền (loại thuyền có nhiều dây); 2. Lâu Thuyền (thuyền có lầu); 3. Mông Đồng Thuyền (loại thuyền chiến); 4. Hải Đạo (thuyền đi biển); 5. Đỉnh (loại thuyền nhỏ, thuyền đua); 6. Lê Thuyền (thuyền có sáu mái chèo); 7. Ô Thuyền (thuyền sơn màu đen); 8. Xa (xe); 9. Kỳ (cờ hiệu).

Tháng 5 năm Bính Thân (tháng 6.1836), đã “Đúc xong chín cái đỉnh”. Chính xác hơn là người ta mới đúc xong phần thô của chín cái đỉnh đồng đồ sộ, và còn phải cần làm cho hình thù của nó nhẵn nhụi đẹp hơn, mà thuật ngữ kỹ thuật đúc gọi là làm nguội để đẩy lộ rõ các đường nét mỹ thuật theo từng chủ đề của họa tiết. Bởi vậy, nên vua Minh Mạng mới sai Nội các tuyển chọn nghệ nhân, tập trung sức lực, trí tuệ của cả nước về Kinh đô để khắc những hình tượng đã được đúc nổi phần thô theo chủ đề lên từng đỉnh trước đó. Và phải mất hơn tám tháng sau, bằng những dụng cụ (đồ nghề) tự chế để sử dụng được thích hợp hơn trong việc trau chuốt, tạo nên các đường nét trên khuôn hình, và bằng phương pháp thủ công như: tỉa, gọt, đục đẽo, chạm trổ… thì người ta mới khắc xong 162 họa tiết hình tượng; tập hợp thành bức tranh toàn cảnh của đất nước Việt Nam thống nhất thời nhà Nguyễn.

(Sưu Tầm)


Để mua ve may bay di hue, xin vui lòng liên hệ với chúng tôi.

0 nhận xét
Nhãn: , , , , , , , ,

Cùng đi du lịch ở xứ huế - giọng nói là quê hương


XỨ HUẾ: GIỌNG NÓI LÀ QUÊ HƯƠNG

Xứ Huế: Giọng nói là quê hương. Du lịch Huế. Du lịch Việt Nam, du lich Hue. Thong tin du lich Hue.
“Anh yêu là yêu bởi cái chân chất, hiền lành của em chứ không phải yêu cái gì ‘thời thượng’. Em hãy luôn là chính mình và giữ mãi giọng nói của quê mình em nhé!” Đây là câu nói mà một đôi lứa yêu nhau nhắc nhở giữ giọng nói như bản sắc của quê hương mình.

  Giọng nói là quê hương

Khoa học vẫn chưa xác định được giọng nói khác nhau ở các vùng miền, lãnh thổ do yếu tố nào chi phối. Thổ ngữ thường biểu hiện sự khác biệt về thể chất, tính khí của dân tộc. Về mặt thổ nhưỡng, có người cho rằng nơi nước trong thì tiếng nhỏ, nước đục thì tiếng thô. Đó là một ý kiến dựa trên quan sát thực tế, ngoài ra còn có rất nhiều quan điểm giải thích hiện tượng này. Có quan điểm cho rằng do thổ nhưỡng nguồn nước, có quan điểm cho rằng do vị trí địa lí, hay thổ nhưỡng chất đất. Cách nhau mười mấy cây số là đã nói giọng khác nhau rồi. Hay dù uống chung nguồn nước nhưng bên này sông giọng khác, bên kia sông nói giọng khác. Giọng nói quan trọng vì nó như là biểu hiện âm thanh cho người ta nhận biết được quê quán xuất xứ của một người. Giọng nói còn có ý nghĩa tinh thần liên hệ với nơi chôn nhau cắt rốn, nơi con người ta sinh ra và lớn lên. Chỉ cần nghe chất giọng đó vang lên là người ta bồi hồi nhào đến nhận đồng hương. Khi đi xa, ở chốn đất khách thì một thoáng quê hương như vậy làm con người ta rất ấm lòng. Nói bằng giọng đó, nghe với giọng đó, người ta như sống lại những ngày tháng ở quê hương. Kỷ niệm của thời đã xa cứ thế ùa về, và ngày trở lại thăm quê cứ hiển hiện trong tâm trí. Dải sơn hà Tổ quốc ta trải dài từ nam chí bắc, nên giọng nói cũng phân vùng theo tông giọng Bắc – Trung – Nam. Trong tất thảy các thứ tiếng, thứ giọng, tiếng và giọng Huế có tính đặc thù. Người ta ít thấy người Nam nói giọng Huế hay người Bắc nói tiếng Nam mà thường thấy người Huế thay đổi giọng theo môi trường và hoàn cảnh sử dụng. Có một nguyên nhân khá rõ là do người Huế có thể nghe âm và nhại âm theo giọng Nam, Bắc, nhưng giọng Huế nói ra thì người Nam, Bắc khó nghe hết cho suôn. Có thể mường tượng theo phương chiều, nếu giọng Bắc có phương nghiêng bên trái, giọng Nam bên phải thì giọng Huế có phương thẳng đứng. Tính trên dải dất miền Trung thì nam miền Trung từ Đà Nẵng trở vào có giọng gần với người Nam hơn. Bắc miền Trung thì xứ Thanh, xứ Nghệ có nhiều âm, nhiều điệu giọng người Bắc hơn. Trong khu Bình - Trị - Thiên, thì giọng Huế có vẻ tròn âm nhất, cứ nghe qua giọng Quảng Trị, Quảng Bình thì biết. Nhưng điều đặc biệt nhất là người Huế mà không nói giọng Huế thì đừng nhận là người Huế, giọng nói thực sự là quê hương.

Cái âm trọ trẹ rứa mà thương!

Giọng nói rất thiêng liêng, nó như được tích tụ từ hồn núi sông vì thế đánh mất giọng nói của mình là chối từ, cả quê cha đất tổ, cả giòng họ tông đường, ít nhất là đối với người Huế. Những người đi xa vì để thuận tiện trong giao tiếp người ta phải dùng những từ phổ thông toàn dân hay cố gắng làm giọng mình nhẹ hơn, thay đổi chút ít cho phù hợp, mềm và dễ nghe. Nhưng hạnh phúc nhất, sướng nhất vẫn là được nới giọng nói của quê hương mình, giọng cha sinh mẹ đẻ. Tiếng Huế có khi nghe lạ tai với những từ như chi, mô, răng, rứa , tê, chừ, ni, nớ, hỉ, hả, hí... Đây là những từ mà những từ mà muốn biết thì phải tra từ điển ‘sống’ gốc Huế! Những từ này thường giữ vai trò làm âm điệu và cách nói của người Huế trở nên đặc trưng hơn. Nghe ra “Rứa khi mô anh vô trong nớ thì cho em gởi lời hỏi thăm Bác với hí” thì thấy âm điệu trầm bổng thật khác thường. Câu nói này thật ra là “Lúc nào anh vào thì em gửi lời thăm Bác trong đó”. Cũng có lúc giọng Huế rất khó nghe, dễ gây bối rối ở những người ở các địa phương bạn. Người Huế khi nói chuyện với nhau dùng rất ít chữ, câu nói ngắn, gọn mà hàm súc ý. Với họ, việc diễn tả ý tưởng của mình bằng vài chữ sơ sài là một chuyện thường như cơm bữa. Vẫn biết mi là mày, mấy là bao nhiêu, nhưng ‘mi mua mấy?’ thì nghe khác với ‘mày mua cái đó giá bao nhiu dzậy?’ hay ‘thế cái đó có giá bao nhiêu?’ Người Huế nói ít mà hiểu nhiều, nếu thực sự là Huế và Huế với nhau. Người Huế cũng thường dùng những từ rất Huế, của riêng Huế để nói chuyện với nhau. Âm vực khó, khác lạ, không cao không thấp, ít thanh. Giọng bình, trung tính. Người vùng khác thường nói giọng Huế trọ trẹ. Nhưng đúng là cái âm trọ trẹ nghe rứa mà thương.

Một tài liệu thổ âm xứ Huế lại cho rằng dòng sông Hương có ảnh hưởng đến giọng Huế bởi vì dòng sông Hương chảy qua lòng thành phố Huế nên người Huế rất sâu sắc, thâm trầm.

“Con sông dùng dằng, con sông không chảy
Sông chảy vào lòng nên Huế rất sâu”
Thu Bồn
Huế ảnh hưởng của thổ âm vùng Bình Trị Thiên nhưng giọng Huế lại nhẹ nhàng và thanh tao hơn. Các thổ âm chỉ được nói ở các vùng quê nằm lân cận và hay pha các tỉnh bạn. Riêng kinh đô Huế, là một trung tâm văn hóa quan trọng, nơi có chút tính quý tộc, nên giọng Huế ở ngay kinh thành thì như là một thứ ‘đặc sản’ của giọng và tiếng Huế nói chung.

“Giữ chút gì rất Huế mặn mà
Dạ thưa ngọt lịm ai mê say
Và hơi thở mềm, sương khói bay”
Huỳnh Hữu Dụng


Nếu lại được em ru bằng giọng Huế
Được vỗ về như mạ hát ngày xưa
Câu mái đẩy chứa chan lời dịu ngọt
Chết cũng đành không nuối tiếc chi mô”
Tô Kiều Ngân
Cũng bởi thế mà cho dù đi đâu về đâu, hay người ta có đến Huế mấy lần đi nữa thì vẫn thấy Huế có chút gì đó thuỷ chung, vẫn truyền thống, khuôn phép qua giọng nói:


“Dạ thưa xứ Huế bây giờ
Vẫn còn núi Ngự bên bờ sông Hương”
Bùi GiángGiữ tiếng như một tấm lòng
Ý nghĩa là thế, nên thơ là thế, nhưng hoàn cảnh đôi lúc lại khác. Xu thế chung nên các ca sĩ thành danh thường Bắc chinh, Nam tiến. Có người mỗi khi xuất hiện trên truyền hình thường thay đổi giọng nói của mình, giả giọng để nghe phổ thông hơn chứ không giữ giọng Huế nữa. Cũng có người đang hát ở cố kinh nhưng chỉnh giọng khác đi để chứng tỏ mình đã hội nhập. Đôi khi việc làm này tạo nên sự khó nghe và phản cảm không những đối với người Huế, mà còn đối với du khách. Đến Huế họ muốn nghe được tiếng Huế, nghe như để tiếp cận một khía cạnh của con người Huế và văn hóa Huế. Thực tế thì không ai đến Huế để nghe, để thấy bản sắc phai mờ.

Giọng Huế cũng là một thứ quý để mang đi xa. Ai đã nghe giọng bà Tôn Nữ Thị Ninh, người giữ nguyên giọng Huế khi là người phát ngôn của Bộ Ngoại giao Việt Nam thì đồng ý với nhận định trên đây. Người ta nhận ra bà là người ở đâu không chỉ qua tên họ của bà. Phát thanh viên ở Huế vẫn có những chương trình phát trên truyền hình, phát thanh trung ương. Giọng vẫn hay, trầm ấm mà lời nghe vẫn rất rõ. Ca sĩ Hương Mơ và cùng nhiều người khác nữa, dù lập nghiệp xa nhưng vẫn luôn nói giọng Huế quê hương. Có quý mới có người ở xa về thấy thoải mái, thấy sướng khi được nghe, được nói giọng của quê hương, được dùng những từ địa phương rất chi là Huế. Nhiều nhóm xa quê lúc tìm nhau đem quà là giọng Huế, nói chuyện bằng giọng Huế cho đỡ nhớ, bởi lâu không nói thấy thèm!

Để mua ve may bay di hue, xin vui lòng liên hệ với chúng tôi.

0 nhận xét
Nhãn: , , , , , ,

Cùng đi du lịch nghe hò xứ huế



Nghe hò nhớ Huế. Du lịch Huế. Du lịch Việt Nam, du lich Hue. Thong tin du lich Hue.
"Biết ở đâu là cầu Ô Thước
Mênh mông nguyện ước, dưới nước trên trời.
Đêm khuya ngớt tạnh mù khơi,
Khúc sông quạnh vắng, có người sầu riêng."

Tiếng hò theo đò từ xa lại gần rồi lại đi xa, không biết cô lái đò từ đâu đến và đi về đâu, cơ thể dẻo dang làm sao, mặt mũi duyên dáng đến mức nào. Chỉ nghe được lời thổn thức của cô lái đò, gởi gắm tâm tình vào sông, vào nước.

Câu hò xao xuyến, bay bổng, điệu hò chậm rãi, miên man, tiếng hò bâng khuâng, da diết, trong đêm thâu làm chạnh lòng hơn một người.

Người dân xứ Huế dễ rung động với đồng ruộng, sông nước, rừng rậm, cây ngàn. Vì vậy trong đời sống họ hay biểu lộ tâm tình qua những câu hò, điệu hát. Riêng chỉ câu hò đã có cả chục điệu. Trong công việc đồng áng khi đạp nước, đạp lúa, họ cố quên thời gian với những câu hò ô thiết tha, trầm bổng. Khi đập đất, đắp nền, họ trêu chọc nhau với những câu hò hụi lưu loát, linh hoạt. Khi làm đường, đắp đê, họ khuyến khích nhau qua điệu hò nện dồn dập, khẩn trương. Khi kéo bè, kéo gỗ, họ động viên nhau với những điệu hò kéo thác mạnh mẽ, khoẻ khoắn. Khi xay lúa, giã gạo, họ đố đáp nhau qua những câu hò giã gạo sôi động, hào hứng.

"Cây chi trong rừng không lá,
Cá chi dưới biển không xương
Trai nam nhơn giải đặng, thiếp xin kết nghĩa tao khang với chàng...
Cây xương rồng trên rừng không lá,
Con sứa dưới biển là cá không xương,
Anh nay đà đối đặng, em phải kết nghĩa cương thường với anh."

Ở nhà, hò ru con là điệu hò ngọt ngào, êm ái thường ngày mà bà mẹ nào cũng biết. Đứa con nhỏ nào mà không lớn lên với những bài học từ thuở dại thơ.

"Ru con cho théc cho muồi,
Cho mẹ đi chợ mua vôi ăn trầu.
Mua vôi chợ Quán, chợ Cầu,
Mua cau Nam Phổ, mua trầu chợ Dinh.
Chợ Dinh bán áo con trai,
Triều Sơn bán nón, Mậu Tài bán kim."

Trong số các điệu hò nầy, hai điệu được phổ biến rộng rãi có lẽ là hai điệu chèo đò, giống nhau trong câu hát, chỉ có khác nhau chút ít trong cách diễn tả. Hò mái nhì là điệu hò nổi tiếng nhất, buông lơi, man mác, thường được nghe trên dòng sông trầm lặng, độc diễn, nhưng cũng có khi đối đáp giữa hai người cùng nhau tâm sự, kẻ xướng, người xô, gởi lòng vào mây nước trong đêm vắng như hai nhân tình cùng nhau thỏ thẻ mối tình dưới trăng thanh.

Trai:      "Em về ngược gió xang mưa
Thuận buồm xuôi gió biệt mông xa chừng.
Em về anh cũng muốn về theo
Lên truông cát nóng lội đèo đá dăm."
Gái:      "Cát nóng em đưa lưng em cõng
Đá dăm em lượm sạch đường anh đi."

Gần gũi với hò mái nhì là hò mái đẩy, rắn rỏi, dồn nén, thường vang vọng trong khúc sông nước xiết hay ở đầm phá sóng to, gió lớn, người lái đò phải vững tay giữ chèo cho nên điệu hò bớt lơ lửng mà dứt khoát, chắc nịch.

"Một mình cả chống cả chèo
Không ai tát nước đỡ nghèo một phen."

Cách ngân nga của điệu hò mái nhì, mái đẩy thật là đặc biệt, nhất là khi do một nghệ sĩ người Huế biểu diễn. Câu hò bắt đầu với những ò ơ à ơ dài dăng dẳng tưởng không khi nào ngớt. Rồi khi câu hò thật sự bắt đầu, mới được hai chữ lại còn ờ ơ à ơ, xem như người hò chần chừ không muốn đi ngay đến đích để người nghe thưởng thức tiếng ngân của mình. Ngày nay, như múa rối nước lên đường Nam tiến, hát cải lương lấn bước miền Bắc, ca hò Huế cùng bún bò, bánh bèo,... phân tán khắp đất nước, vượt biên ra cả nước ngoài.

Trước thế kỷ 14, xứ Huế còn là vùng đất của người Chàm. Theo bước chân công chúa Huyền Trân, người Việt từ miền Bắc mới dần dần vào hai châu Ô, Rí khai khẩn đất hoang, sống chung với người dân bản địa. Theo những nhà chuyên khảo, ca hò Huế là hệ quả giao lưu giữa văn hoá Champa và văn hoá Việt Nam. Họ khám phá ra, bên cạnh những điệu nam ai, nam bằng, giai điêu lơ lớ tức là hơi nam giọng ai hay ngũ cung ai của hò mái nhì, mái đẩy (do, re non, fa già, sol, la non) là một kết hợp của ngũ cung đúng miền Bắc (do, ré, fa, sol, la) với ngũ cung oán nhạc Champa (do, mi, fa, sol, la). Đặc biệt là kết hợp nầy chỉ giới hạn ở vùng Bình Trị Thiên, tức là ba tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên, không lan vào miền Nam cũng không tràn ra miền Bắc.

Trong lúc chờ đợi, giao lưu Pháp - Việt, sau gần một thế kỷ sống chung và mấy chục năm chinh chiến, lại trên đường nối tiếp. Riêng đối với Huế, hai Festival 2000 và 2002 vừa qua đã là dịp để cho các đoàn văn nghệ Pháp trình bày với công trình đất Thần kinh một mặt văn hoá nào của xứ sở Rousseau và Voltaire. Ngược lại, những đoàn ca hát Huế, Phú Xuân hay Trường Đại học Nghệ thuật, ban nhạc Cung đình hay nhóm tụng kinh niệm Phật của mấy vị tu sĩ cũng đem lai cho thính giả Pháp những làn điệu xa xăm, có khi lạ thường. Thật ra, những câu hò Huế đã từng được thưởng thức trên sâu khấu Paris, ngay cả trong vở múa nhạc Khúc nguyện cầu trong ấy nghệ sĩ Ea Sola khai thác mặt ảm đạm, âu sầu của các câu hò mái nhì, mái đẩy thay vì sử dụng điệu hò đưa linh thấy như còn não nùng, ai oán hơn, góp phần xoa dịu khổ đau của những kẻ mất mát người thân.

Đêm năm canh ngày sáu khắc con ve kêu giục giã,
Con đương mơ màng sực nghe tiếng mẹ kêu.
Muốn tìm mẹ tìm sao đặng mẹ,
Tây phương đất Phật mẹ đi không về.

Mùa thu năm vừa qua, nhân buổi gặp mặt với nữ sĩ Tôn Nữ Hỷ Khương ở Phật đường Khuông Việt tại Orsay, ngoại ô nam Paris, những người bạn Huế, đồng bào hâm mộ thơ nhạc lại được thưởng thức những câu hò gợi biết bao thương nhớ.

Chiều chiều trước bến Văn Lâu,
Ai ngồi, ai câu, ai sầu, ai thảm,
Ai thương, ai cảm, ai nhớ, ai trông?
Thuyền ai thấp thoáng bên sông
Đưa câu mái đẩy, chạnh lòng nước non.

Ngoài hò mái nhì, mái đẩy bên cạnh thơ văn đủ loại, cụ Ưng Bình còn có những câu hò giã gạo có tính cách trào phúng, ít được biết.

Áo Lơ-muya với giày cao gót
Theo em, theo chị cái mốt tân thời.
Vỏ ngoài che đậy mà chơi,
Tháo ngay trong dạ để gương đời soi chung.

Thấy ra hò thật là một thể loại dân ca rất được truyền tụng ở xứ Huế, một kho tàng văn nghệ dân gian phong phú, có thể là nơi tập trung nhiều điệu hò nhất trong một diện tích nhỏ hẹp miền Trung. Người con dân nào đã sống lên ở Huế mà không nuôi dưỡng trong lòng một bầu hò đầy kỷ niệm thơ mộng.

Để mua ve may bay di hue, xin vui lòng liên hệ với chúng tôi.

0 nhận xét
Nhãn: , , , , ,

Cùng nhau ăn nem lụi xứ huế

Nem lụi xứ Huế. Đặc sản Huế. Du lịch Huế. Du lịch Việt Nam, du lich Hue. Thong tin du lich Hue. Dac san co do Hue




Rất đơn giản trong cách chế biến, thế nhưng nem lụi đã khiến biết bao nhiêu thực khách phải “ngẩn ngơ lòng” khi thưởng thức. Nguyên liệu để làm nên món nem lụi rất đơn giản: thịt heo đã quết nhuyễn trộn với bì, mỡ heo thái hạt lựu ướp cùng muối, tiêu đường, thính. Sau đó người ta lụi hỗn hợp này vào từng chiếc đũa tre nhỏ và nướng trên bếp than. Mùi vị thơm nức của thịt bốc lên trên từng chiếc đũa tre khiến thực khách “không cầm lòng” nổi. Đó là sự hấp dẫn đầu tiên mà món ăn mang tới cho bạn. 


Nhưng món nem lụi không chỉ kéo chân thực khách bởi mùi vị tỏa ra từ miếng thịt ngon lành, mà còn bằng chén nước chấm được pha chế rất độc đáo. Đó không phải là chén nước chấm chua ngọt mà chúng ta vẫn thường ăn với bún thịt nướng hay bún chả, mà là chén nước chấm được pha bằng kiểu rất riêng của người Huế. Đầu tiên, để làm nước chấm, người ta xay nhuyễn đậu phộng, cho thêm một chút nước mắm rồi đun trên bếp thành một hỗn hợp sền sệt giống như tương. Người ta còn cho thêm vào đó gan heo, thịt heo băm nhuyễn để món nước chấm được đậm đà và nhiều hương vị hơn.


Thông thường, người ta ăn kèm nem lụi với bánh tráng, rau thơm, khế chua, chuối xanh, sung… tùy theo khẩu vị mỗi người. Bày nem lụi ra đĩa, bạn sẽ thấy một món ăn đủ màu sắc: màu vàng ươm của miếng thịt đã được nướng, màu xanh của rau, màu nâu của nước chấm, và thêm chút đỏ tươi của vài miếng ớt thái nhuyễn.


Cầm miếng bánh tráng trên tay, lần lượt xếp rau thơm, khế chua, chuối xanh rồi tới nem lụi, cuốn vào và bắt đầu thưởng thức. Món ăn là sự kết hợp hài hòa của các hương vị: mùi thơm của miếng thịt đã nướng vàng, chút cay cay của tiêu và ớt, độ ngọt và bùi bùi của nước chấm sền sệt, vị tươi mát từ rau xanh... Thật ngọt ngào biết bao món nem lụi xứ Huế.


Để mua ve may bay di hue, xin vui lòng liên hệ với chúng tôi.

0 nhận xét
Nhãn: , , , , ,

Cùng đi du lịch huế ở lăng vua Minh Mạng


Du lịch Huế - Lăng vua Minh Mạng. Du lịch Việt Nam, du lich Hue. Thong tin du lich Hue.

Lăng Minh Mạng còn gọi là Hiếu lăng ( do vua Thiệu Trị cho xây dựng), nằm trên núi Cẩm Khê, gần ngã ba sông Bằng Lãng là nơi hội lưu của hai dòng Hữu Trạch và Tả Trạch hợp thành sông Hương, cách cố đô Huế 12 km. Lăng Minh Mạng được xây dựng từ năm 1840 đến năm 1843 thì hoàn thành, huy động tới mười nghìn thợ và lính.

Trong khoảng diện tích được giới hạn bởi vòng La thành dài 1.750 m lăng Minh Mạng là một quần thể kiến trúc gồm cung điện, lâu đài, đình tạ được bố trí đăng đối trên một trục dọc theo đường Thần đạo dài 700 m, bắt đầu từ Đại Hồng Môn , xuyên qua một loạt các hạng mục công trình gồm: cửa chính, sân chầu, nhà bia, sân tế, Hiển Đức môn, điện Sùng Ân (thờ vua Minh Mạng và Hoàng hậu), hồ Trừng Minh, Minh Lâu, hồ Tân Nguyệt (trăng non), cổng tam quan Quang Minh Chính Trực, Trung Đạo kiều và cuối cùng là Bửu thành (mộ vua Minh Mạng). Hình thể lăng tựa dáng một người nằm nghỉ trong tư thế thoải mái, đầu gối lên núi Kim Phụng, chân duỗi ra ngã ba sông ở trước mặt, hai nửa hồ Trừng Minh như đôi cánh tay buông xuôi tự nhiên.

Từ ngoài vào trong, các công trình được phân bố trên ba trục song song với nhau mà Thần đạo là trục trung tâm. Xen giữa những công trình kiến trúc là hồ nước ngát hương sen và những quả đồi phủ mượt bóng thông, tạo nên một phong cảnh vừa hữu tình vừa ngoạn mục.

Mở đầu Thần đạo là Đại Hồng Môn, cổng chính vào lăng, xây bằng vôi gạch, cao hơn 9 m, rộng 12 m. Cổng này có ba lối đi với 24 lá mái lô nhô cao thấp và các đồ án trang trí cá chép hóa rồng, long vân... được coi là tiêu biểu của loại cổng tam quan đời Nguyễn. Cổng chỉ mở một lần để đưa quan tài của vua vào trong lăng, sau đó được đóng kín, ra vào phải qua hai cổng phụ là Tả Hồng Môn và Hữu Hồng Môn.

Hoằng Trạch Môn là công trình kết thúc khu vực tẩm điện mở ra một không gian của hoa lá và mây nước phía sau. Tất cả những công trình mang tính hiện thực dường như dừng lại ở khu vực tẩm điện. Từ đây, bắt đầu một thế giới mới đầy thư nhàn, siêu thoát và vô biên. 17 bậc thềm đá Thanh đưa du khách vào khoảng trời xanh mát bóng cây và ngát thơm mùi hoa dại.
Ở giữa hai hồ Trừng Minh và Tân Nguyệt, trên đường thần đạo, là Minh Lâu. Minh Lâu nghĩa là lầu sáng, nơi nhà vua suy tư vào những đêm hè trăng thanh gió mát, là nơi đi về của linh hồn tiên đế, là dấu chấm vuông kết thúc một thế giới hữu hạn; là “bộ ngực kiêu hãnh” của “con người” được ví bởi hình dáng của khu lăng. Minh Lâu là sự thể hiện cách lý giải về vũ trụ và nhân sinh quan của người xưa. Tòa nhà này hình vuông, hai tầng, tám mái, là một biểu trưng của triết học phương Đông

Một cái hồ hình trăng non tên là Tân Nguyệt ôm lấy Bửu Thành. Bửu Thành là một quả đồi thông hình tròn, bao quanh bởi tường thành, bên trong, sâu bên dưới là mộ vua. Đây là hình ảnh của thế giới vô biên. Hồ trăng non ví như yếu tố "Âm" bao bọc, che chở cho yếu tố "Dương" là Bửu Thành - biểu tượng của mặt trời. Kết cấu kiến trúc này thể hiện quan niệm của cổ nhân về sự biến hoá ra muôn vật. Đó là nhân tố tác thành vũ trụ.

Cầu Quang Minh Chính Trực có 33 bậc tầng cấp dẫn vào nơi yên nghỉ của nhà vua, nằm giữa tâm một quả đồi mang tên Khải Trạch Sơn, được giới hạn bởi Bửu Thành hình tròn. Hình tròn này nằm giữa những vòng tròn đồng tâm biểu trưng, được tạo nên từ hồ Tân Nguyệt, La Thành, núi non và đường chân trời như muốn thể hiện khát vọng ôm choàng trái đất và ước muốn làm bá chủ vũ trụ của vị vua quá cố.

Phía sau Bửu thành là rừng thông xanh thẳm, đem lại một cảm giác u tịch. Trên mặt cắt kiến trúc dọc theo đường thần đạo, các công trình cao thấp theo một nhịp điệu vần luật nhất quán, âm dương xen kẽ, tạo nên nét đẹp riêng cho công trình kiến trúc lăng tẩm này. Bố cục kiến trúc đăng đối của các hạng mục chính trong lăng đem lại cho lăng một vẻ uy nghiêm cần có của công trình lăng mộ. Tuy vậy, ở ngoài rìa, men theo con đường dạo quanh co vòng quanh hai hồ nước và viền xung quanh lăng, xen lẫn với cây cối có các công trình kiến trúc nhỏ dùng để nghỉ chân ngắm cảnh như: đình Điếu Ngư, gác Nghênh Phong, hiên Tuần Lộc, sở Quan Lan, Tạ Hư Hoài ... làm cho toàn bộ quần thể lăng uy nghiêm nhưng vẫn hài hòa với thiên nhiên và duyên dáng tráng lệ.

Hai bên trục chính của lăng có nhiều công trình phụ đối xứng nhau từng cặp một. Hiện nay các công trình như Tả Phùng trên Tịnh Sơn; Hữu Tùng Phòng trên Ý Sơn; Tuần Lộc Hiên trên Đức Hoá Sơn; Linh Phượng Các trên Đạo Thống Sơn; Truy Tư Trai trên Phúc Ấm Sơn; Hư Hoài Tạ trên đảo Trấn Thuỷ đều không còn tồn tại.

Bên cạnh hàng loạt các công trình kiến trúc có giá trị nghệ thuật và thẩm mĩ cao còn có gần 600 ô chữ chạm khắc các bài thơ trên Bi Đình, Hiển Đức Môn, điện Sùng Ân và Minh Lâu cũng là những tuyệt tác vô giá. Đó là một bảo tàng thơ chọn lọc của thi ca Việt Nam đầu thế kỉ 19.

Để mua ve may bay di hue, xin vui lòng liên hệ với chúng tôi.

0 nhận xét
Nhãn: , , ,

Đại hội đại biểu Công đoàn Cục HKVN thành công tốt đẹp



Ngày 21/1, Đại hội đại biểu Công đoàn Cục HKVN lần thứ III, nhiệm kỳ 2013 – 2018 đã diễn ra và kết thúc tốt đẹp.



Các đồng chí: Tạ Đăng Mạnh, Ủy viên BCH Tổng Liên đoàn LĐVN, Chủ tịch Công đoàn Giao thông vận tải Việt Nam; Lại Xuân Thanh, Bí thư Đảng ủy, Cục trưởng Cục HKVN; Lãnh đạo các Ban thuộc Công đoàn GTVTVN; Cựu cán bộ Công đoàn ngành Hàng không và 80 đại biểu đại diện cho 800 cán bộ, đoàn viên công đoàn tham dự.
Thay mặt BCH Công đoàn khóa II, đồng chí Nguyễn Văn Hải, Chủ tịch Công đoàn Cục HKVN đã trình bày bản Báo cáo Tổng kết công tác Công đoàn nhiệm kỳ 2008-2013 và phương hướng hoạt động nhiệm kỳ 2013-2018. Đại hội cũng được nghe tham luận của các Công đoàn đơn vị.
Tại Đại hội, đại diện Lãnh đạo Công đoàn cấp trên và Lãnh đạo Đài THVN đã có những ý kiến đóng góp, chỉ đạo sát sao. Nhìn chung, các ý kiến đều thống nhất đánh giá cao những thành tích đã đạt được của Công đoàn Cục HKVN trong nhiệm kỳ vừa qua, đồng thời tiếp tục góp ý, bổ sung với mong muốn BCH Công đoàn nhiệm kỳ mới sẽ nỗ lực hơn nữa, vượt qua những thách thức, khó khăn, phấn đấu xây dựng hoạt động Công đoàn ngày một phát triển, lớn mạnh.
Phát biểu tại Đại hội, Chủ tịch Công đoàn GTVT Tạ Đăng Mạnh nhấn mạnh 5 dấu ấn của Công đoàn Cục HKVN trong nhiệm kỳ II trong công tác tuyên truyền giáo dục có nhiều cố gắng chuyển tải đến người lao động chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, các chương trình của Công đoàn; Tổ chức nhiều phong trào thi đua có mục tiêu cụ thể, có sơ kết, tổng kết, làm tốt công tác khen thưởng; Thực hiện tốt chức năng giám sát của tổ chức công đoàn, thực hiện tốt quy chế dân chủ ở cơ sở, quy chế tuyển dụng, đào tạo, đảm bảo thu nhập của người lao động; Làm tốt các hoạt động xã hội; Làm tốt việc xây dựng các quy chế phối hợp, có mối quan hệ tốt với Đảng ủy, các đơn vị thành viên, làm tốt công tác tham gia xây dựng Đảng … Chủ tịch nhiệt liệt biểu dương, ghi nhận những nỗ lực và đóng góp của Công đoàn Cục HKVN bằng thành tích được tặng thưởng Cờ thi đua xuất sắc Công đoàn cơ sở năm 2012.
Đồng thời, Chủ tịch cũng đề nghị Công đoàn Cục HKVN thực hiện tốt 3 chủ động trong việc đề xuất, tranh thủ sự chỉ đạo Đảng ủy Cục, của Công đoàn cấp trên phù hợp với sự phát triển của Cục HKVN; Phối hợp với các cơ quan quản lý đồng cấp thực hiện chức năng của mình, đặc biệt là chức năng tham gia quản lý; Thực hiện các nhiệm vụ chính của tổ chức công đoàn phù hợp với Luật Công đoàn, Bộ Luật Lao động sửa đổi để thực hiện các mục tiêu chung.
Phát biểu tại Đại hội, Bí thư Đảng ủy, Cục trưởng Cục HKVN Lại Xuân Thanh đánh giá cao Báo cáo tổng kết công tác Công đoàn nhiệm kỳ 2008-2013; ghi nhận sự đóng góp lớn của Công đoàn Cục HKVN vào sự phát triển của Ngành và góp phần xây dựng Đảng bộ Cục HKVN trong sạch vững mạnh. Bên cạnh những thành tích và đóng góp của mình, Bí thư Đảng ủy, Cục trưởng Cục HKVN yêu cầu Công đoàn Cục HKVN cần nghiên cứu triển khai các hoạt động thật sự rõ nét, có cơ chế phối hợp, đối thoại với chính quyền một cách phù hợp và tích cực tham gia giám sát hoạt động của chính quyền, dưới sự lãnh đạo của Đảng ủy Cục; Đi đầu trong công tác vận động thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, duy trì kỷ luật lao động; Tham gia tích cực Năm ATGT 2013 và đi đầu trong vận động xây dựng văn hóa an toàn giao thông.
Tại Đại hội, các đại biểu đã bầu Ban Chấp hành Công đoàn nhiệm kỳ 2013-2018 gồm 15 đồng chí: Nguyễn Văn Hải, Võ Thị Nhàn, Nguyễn Duy Hùng, Phạm Xuân Thê, Đoàn Minh Quân, Lê Thanh Hương, Lê Quốc Minh, Trần Doãn Mậu, Trần Thị Thanh Nhàn, Lưu Trung, Trần Thị Diệu Hương, Nguyễn Phước Thắng, Bùi Đăng Hiệp, Phùng Bình Long và Trần Thu Hương.
Ban Chấp hành Công đoàn nhiệm kỳ 2013-2018 ra mắt Đại hội
Ngay sau Đại hội, Ban Chấp hành Công đoàn nhiệm kỳ 2013-2018 đã tiến hành phiên họp đầu tiên để bầu Ban Thường vụ, các chức danh Chủ tịch, Phó Chủ tịch, Ủy ban Kiểm tra, các chức danh Chủ nhiệm và Phó Chủ nhiệm.
Ban Thường vụ gồm các đồng chí: Nguyễn Văn Hải (Chủ tịch), Võ Thị Nhàn (Phó Chủ tịch), Nguyễn Duy Hùng, Phạm Xuân Thê và Đoàn Minh Quân./.
hangkhonggiare.com.vn [ Theo Caa]
__________________________________

0 nhận xét
 
Vé máy bay, Mua vé máy bay giá rẻ © 2012 | Designed by Canvas Art, in collaboration with Business Listings , Radio stations and Corporate Office Headquarters