Hiển thị các bài đăng có nhãn hang khong gia re. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn hang khong gia re. Hiển thị tất cả bài đăng
Nhãn: , , , , , ,

Kỳ 7: Cùng đi du lịch Huế, thưởng thức những họa tiết khắc trên Cửu Đỉnh Huế - Cao Đỉnh


Cao đỉnh- các hình chạm Hổ và Ba La Mật

BA LA MẬT

14. Ba La Mật, tục danh quả mít; còn có tên nẵng gia kiết, quả to như cái đấu, gai mềm, vị ngọt và thơm, hột có thể luộc ăn; khi mít còn xanh người ta vẫn hái để chế biến làm món. Theo Đông y, mít có dược tính hay ích khí, khử phiền. Có hai loại: mít khô (còn gọi mít dai, hoặc ráo) và mít ướt (mít mật); lại có thứ mít nài, mít tố nữ, quả nhỏ hơn, ít múi nhưng mùi vị rất đặc biệt. Cây mít gọi là ba la mộc, chất gỗ có sắc mà bền, có thể dùng làm rường cột, xẻ ván, đóng tủ bàn, chạm tượng thờ, và đóng được nhiều đồ gia dụng khác. Các tỉnh đều có, từ Nghệ An trở vào nam Trung Bộ, miền gần núi trồng được nhiều hơn. Năm Minh Mạng thứ 17, đúc xong Cửu đỉnh, cho chạm hình tượng cây mít có quả vào Cao đỉnh.
HỔ
15. Hổ, tục danh con cọp, còn gọi con hùm, là động vật hoang dã ăn thịt, thuộc họ mèo; dân gian kiêng tránh thường gọi là ông ba mươi, là khái. Một số cổ thư còn chép là ô đồ, là đại trùng, là lý nhĩ. Hổ sống chủ yếu ở các khu rừng già, hoạt động rất rộng, lan ra cả rừng tái sinh, cây bụi, lau lách, trảng cỏ cao. Mỗi ngày đêm nó có thể đi xa hơn 30 cây số; hổ thường sống độc thân. Vùng rừng thấp nước ta, trước đây tỉnh nào cũng có, đôi khi chúng lẻn xuống tận miền đồng bằng rình bắt mồi và bắt cả người. Bộ lông hổ có nền màu vàng nhạt hoặc màu da bò. Toàn thân có nhiều sọc ngang màu đen hoặc nâu đen. Đuôi có vòng nâu đen không đều từ gốc đuôi đến mút đuôi. Thỉnh thoảng cũng có cọp trắng. Qua nghiên cứu, các nhà động vật học thấy được chu kỳ sinh lý của loài thú này: Tiết lập thu thì hổ hay kêu; tháng trọng đông thì hổ mới giao cấu. Hổ sinh con tự nhiên nhưng hơi khó nuôi nên cá thể không sống được nhiều như loài thú khác. Hổ thích ăn thịt chó, ăn rồi thì say, thịt chó được xem như là rượu của hổ vậy. Thịt hổ có thể làm thuốc trị chứng âm tà. Xương cốt hổ đem nấu cao thành cao hổ cốt, dược tính của nó có tác dụng chữa trị khá nhiều bệnh mãn tính, nhất là bệnh xương khớp; còn da được dùng nhiều trong kỹ nghệ. Do hổ có sức mạnh và nhanh nhẹn, dân gian thường quan niệm hổ là vị chúa cai quản núi rừng và gọi là chúa sơn lâm. Hổ có những miếng thế võ cực hiểm, ra đòn là quyết hạ ngay đối phương, tính rất quyết đoán. Thời quân chủ, các vị tướng đứng đầu quan võ cầm quân ra trận, bậc tướng soái được cấp “hổ phù” để điều binh khiển tướng, thể hiện uy quyền, sức mạnh của bậc chủ soái.Hổ dù có sức mạnh, nhưng con người vẫn đủ bản lĩnh để “thuần hóa” được chúng, nhiều con hổ trở thành “diễn viên” làm các tiết mục xiếc. Trong 12 con giáp, hổ (dần) được xếp đứng hàng thứ ba của địa chi. Hổ có tính hay quên, nên không thù dai. Cổ nhân thường bảo: Người cầm tinh hổ, tính hay nóng nảy, ra cửa đụng phải ngọn lá thì mọi chuyện quên ngay. E chỉ là câu nói phỏng mà thôi. Ở tỉnh Thừa Thiên xưa có làng Phù Bài, thuộc huyện Hương Thủy; tỉnh Quảng Trị có làng Thủy Ba thuộc huyện Vĩnh Linh nổi tiếng về “nghề bắt cọp”, nay vẫn lưu truyền.Năm Minh Mạng thứ 17, đúc xong Cửu đỉnh, cho chạm hình tượng hổ vào Cao đỉnh.Nằm về phía tây của Kinh thành Huế, ở phường Thủy Biều vẫn còn dấu tích Hổ Quyền, đây thực chất là một chuồng nuôi hổ, và còn có chức năng của một đấu trường hết sức độc đáo hiếm thấy trên thế giới; đấu trường của những cuộc tử chiến giữa voi và hổ được xây dựng dưới thời vua Minh Mạng.

Kỳ 5: Cùng đi du lịch Huế, thưởng thức những họa tiết khắc trên Cửu Đỉnh Huế - Cao Đỉnh

Để mua ve may bay di huexin vui lòng liên hệ với chúng tôi.

0 nhận xét
Nhãn: , , , , , , ,

Kỳ 6: Cùng đi du lịch Huế, thưởng thức những họa tiết khắc trên Cửu Đỉnh Huế - Cao Đỉnh


Cao đỉnh với hình khắc Lúa tẻ, Đa sách thuyền và Kênh Vĩnh Tế Thoại Ngọc Hầu

CANH

11. Canh, tục danh lúa tẻ. Người xưa nói: lúa xay ra gạo ăn không dẻo gọi là canh, một loại lúa rất thơm, cho gạo hảo hạng, nuôi sống con người đứng đầu các loại lúa tẻ; đại diện cho hơn 47 loại lúa tẻ thời ấy, đều là hạt ngọc nhà trời. (Ở đồng làng An Cựu xưa có trồng giống lúa tẻ hương đạo, tục danh nhe vàng, dân địa phương quen gọi là de, hột hơi dài, sắc gạo rất trắng mà thơm và mềm cơm; tháng 10 cấy, tháng 3 chín, hàng năm có tiến vua. Dân gian có câu: Tôm rằn bóc vỏ bỏ đuôi / Gạo de An Cựu để nuôi mẹ già. Quả là thứ gạo ngon. Đồng ruộng ở miền Bắc có giống tám thơm; miền Nam có nàng hương, đều là những thứ lúa cho gạo hảo hạng).

Năm Minh Mạng thứ 17, đúc xong Cửu đỉnh, cho khắc hình tượng loại lúa tẻ này vào Cao đỉnh.

 ĐA SÁCH THUYỀN

12. Đa Sách Thuyền, chỉ về một loại thuyền khá lớn có nhiều dây buồm (một âm là Đa Tác Thuyền) (có sách chú là thuyền nhiều đáy?), được sản xuất dưới triều vua Gia Long và Minh Mạng. Vì thuyền lớn nên cũng gọi là tàu. Loại thuyền này dùng đi theo sông lớn, đi biển dài ngày và có khả năng đi xa, vượt cả đại dương. Đời vua Minh Mạng có chiếc tàu d’Ajsas mua từ châu Âu về, trông khá giống loại thuyền này. Đa sách thuyền đạt trình độ cao về kỹ thuật đóng thuyền buồm của Việt Nam dưới thời nhà Nguyễn.

Năm Minh Mạng thứ 17, đúc xong Cửu đỉnh, cho chạm hình tượng loại thuyền đa sách này lên Cao đỉnh.
VĨNH TẾ HÀ

13. Vĩnh Tế Hà, tức là sông Vĩnh Tế, người miền Nam quen gọi là kênh (kinh) Vĩnh Tế. Nguyên trước đây, vùng này còn sình lầy, cả bộ lẫn thủy đi lại rất khó khăn, ông Nguyễn Văn Thoại, sinh quán tại Điện Bàn, Quảng Nam - sau vào định cư ở Vĩnh Long, có công phò tá chúa Nguyễn Ánh, được triều đình Huế trọng dụng, phong tước Hầu rất sớm, dân trong vùng quen gọi là Thoại Ngọc Hầu; năm 1818, ông được vua Gia Long bổ làm Trấn thủ Vĩnh Thanh (gồm cả Long Xuyên và Cần Thơ). Tại đây ông cùng quan quân địa phương thiết kế và đốc suất dân binh đào kênh Đông Xuyên rất ích lợi; kênh ấy được nhà vua cho gọi theo tên ông là Thoại Hà; nhân thấy bờ phía đông gần đấy có ngọn Khâu Sơn, bèn cho tên là Thoại Sơn để biểu dương công lao của ông, lại cho dựng miếu thờ sơn thần ở chân núi. Đầu năm 1820, ông lại được lệnh đào con kênh nối từ vùng Châu Đốc đến xứ Hà Tiên. Trong thời gian đào kênh, bà Châu Thị Vĩnh Tế, quê ở Vĩnh Long, vợ của Thoại Ngọc Hầu đã hết lòng lo liệu cùng chồng đốc suất dân binh để đào bằng xong con kênh này. Cảm phục trước công sức khó nhọc của bà, sau khi công trình hoàn thành, vua Minh Mạng đã lấy tên của bà để đặt cho con kênh này là Vĩnh Tế.

Kênh Vĩnh Tế là một công trình thủy lợi, do chính Thoại Ngọc Hầu thiết kế và tự thân đốc suất dân binh làm việc ngày đêm, với số nhân công lên đến 80.000 người. Thời gian đào kéo dài gần 5 năm (1820-1824). Sự thành công này đem lại lợi ích nhiều mặt cho vùng biên giới Tây Nam của Tổ quốc. Đương thời khi kênh đào xong, vua Minh Mạng lấy làm hoan hỉ, khen ngợi công sức của dân binh trong vùng và ông bà Thoại Ngọc Hầu, lại sai dựng bia ở bên bờ sông để ghi sự tích. Kênh Vĩnh Tế lúc mới đào rộng 15 tầm, sâu 6 thước, dài hơn 200 dặm. Kênh này hiện có nhiều đoạn được nới rộng, sâu và dài hơn xưa, chảy từ Châu Đốc, Tri Tôn, tỉnh An Giang xuống huyện Kiên Lương gặp sông Giang Thành chảy tới cửa Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang; đoạn kênh chảy qua Hà Tiên còn được gọi là rạch Hà Tiên. Kênh chảy song song với đường biên giới Việt Nam - Campuchia cách đường biên giới 3 cây số. Có lẽ trong lịch sử mở nước, đây là trường hợp duy nhất ở nước ta, cả hai vợ chồng đều có công khai sông dẫn thủy đã được triều đình lấy tên để đặt tên cho công trình mà họ đã làm nên; đặc biệt là công sức đóng góp của người phụ nữ đối với đất nước. Vua Minh Mạng cho khắc hình tượng Vĩnh Tế Hà lên Cao đỉnh, thờ trước sân chầu Thế Tổ Miếu. Dưới chân núi Thoại Sơn, từ buổi ấy nhân dân đã lập đền thờ hai ông bà Thoại Ngọc Hầu, bốn mùa hương khói tri ân.

Để mua ve may bay di huexin vui lòng liên hệ với chúng tôi.

0 nhận xét
Nhãn: , , , , , , , ,

Kỳ 4: Cùng đi du lịch Huế, thưởng thức những họa tiết khắc trên Cửu Đỉnh Huế - Cao Đỉnh


Cao đỉnh với hình khắc Trầm hương và sông Bến Nghé

Trầm hương

6. Trầm Hương, tục danh cây dó bầu, thường gọi cây trầm. Do khi người ta bỏ xuống nước thì nó chìm nên gọi là trầm. Chất dầu của cây trầm rất thơm, có thể bào chế làm thuốc trị thấp khử tà, lại là dược liệu bổ dương được cả Đông lẫn Tây y đều lấy dùng rất nhiều. Miền rừng núi từ Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị trở vào nam Trung Bộ các tỉnh đều có. Sách Nghệ An phong thổ ký chép rằng: cây dó già cỗi, tinh dịch kết lại thành hương, cây còn sống mà đẽo lấy thì gọi là sinh trầm có thể dùng làm thuốc, cây đã chết mà lấy gọi là tử trầm, chỉ dùng chế chất thơm, lấy lúc cây đã mục nát gọi là tốc hương, là mật hương. Loại cây này giống cây liễu to, muốn lấy hương thì đốn ngả cây đã lâu năm, cội rễ cành đốt đều có màu sắc khác nhau, ruột cây rắn và đen, bỏ xuống nước mà chìm gọi là trầm hương, nổi ngang với mặt nước gọi là kê cốt hương, gốc cây là hoàng thục hương, thân cây là sạn hương, cành nhỏ rắn chắc chưa nát là thanh quế hương, gốc và mắt cứng mà lớn là mã đề hương.

Người đi khai thác trầm hương rất gian truân, có khi bỏ cả mạng ở rừng sâu núi thẳm, đúng như câu nói: “Ăn của rừng rưng rưng nước mắt”. Người đi tìm trầm thường kiêng cữ nhiều thứ: trước ngày vào rừng họ thường kiêng ăn thịt những con vật linh, cấm gần phụ nữ, tránh nói năng bậy bạ; khi đến cửa rừng, hay vào ngày gặp được cây dó, người ta thường đặt lễ dâng cúng thần mộc, nên cây trầm còn được người dân miền núi gọi là Cây Thần.
Năm 1830, triều đình cho đặt hộ trầm hương ở Phú Yên, sai mộ dân bên ngoài sung vào. Lấy 30 người làm định ngạch, mỗi người hàng năm nộp thuế 1 cân trầm hương.
Năm Minh Mạng thứ 17, đúc xong Cửu đỉnh, cho chạm hình tượng cây trầm hương vào Cao đỉnh.
Trầm hương Việt Nam được các nước theo Phật giáo, Hồi giáo dùng nhiều trong tế lễ, được xem là một loại dược liệu cao cấp, dùng để chế thuốc trị hen suyễn, tăng cường sinh lực. Trong Tây y, trầm là thành phần cơ bản để làm biệt dược điều trị chứng ung thư bàng quang. Cây trầm cũng còn được dùng tạc tượng thờ, làm vật trấn yểm khí tà, xua đuổi ma quái...

Thời trước, trầm hương nổi tiếng hơn cả là ở Vạn Giã, Khánh Hòa. Những năm tám mươi của thế kỷ XX, tỉnh Bình Trị Thiên cũ có lúc xuất khẩu ra nước ngoài lên đến hàng trăm tấn, ngành xuất khẩu trầm bấy giờ được mệnh danh là “vua trầm” Việt Nam. Do cây trầm có nhiều ích lợi mà ngày nay người dân các tỉnh miền Trung và Tây Bắc Việt Nam đều có trồng, có nơi trồng xen canh đến hàng chục hécta. Nhưng để cây dó bầu ấy có tinh dịch làm dược liệu cao cấp thì nó cần phải sinh trưởng đến hàng chục năm sau.
 Ngưu chử giang

 7. Ngưu Chử Giang, tục gọi là sông Bến Nghé, sông ở vùng thành phố Hồ Chí Minh; xưa sông này chảy qua huyện Tân Bình nên còn có tên sông Tân Bình. Khi người Pháp chiếm cứ Sài Gòn và Lục tỉnh, họ gọi là sông Sài Gòn; nguồn sông chảy từ gần Bương Đầm - Lộc Ninh xuống phía nam song song với sông Bé, chảy đến Nhà Bè thì gặp sông Đồng Nai, còn gọi là sông Phước Long, rồi chảy vào cửa biển Cần Giờ. Sông Bến Nghé có nhiều chi lưu, chi phía tây nam chảy trong địa giới tỉnh Gia Định xưa, chi đông bắc chảy ra phía Biên Hòa. Sông rộng và sâu, dài khoảng 256 cây số, ngay từ đầu thế kỷ XIX, tàu thuyền các trấn, tỉnh, trong nước và của các nước ngoài đã ra vào sông này tấp nập, biến nơi đây thành một đô hội sầm uất.

Tục truyền, sông Ngưu Chử xưa kia hai bên bờ còn hoang vắng, ở đây có rất nhiều cá sấu sinh sống, chúng thường rượt đuổi cắn nhau, tiếng kêu như tiếng trâu nghé rống, cho nên người ta mới gọi tên như thế. Còn theo sách Gia Định thành thông chí của Trịnh Hoài Đức, thì nơi đây vốn có cái bến ngày xưa thường có nhiều con nghé (trâu) đến uống nước nên mới gọi tên này. Như vậy, cứ theo hai cách giải thích trên thì vào lúc người Việt mới lập dinh trấn ở đây, vùng đất này còn hoang sơ lắm, và có rất nhiều giống cá sấu, trâu bò rừng sinh sống thành từng bầy đàn đông đúc. Địa danh Bến Nghé cũng được dùng để chỉ thành Gia Định, tức thành Bến Nghé, thành này xưa tiếp giáp với thủ phủ Sài Gòn, và là trung tâm thương mại Chợ Lớn do Hoa kiều lập nên.

Năm Minh Mạng thứ 17, 1836, đúc xong Cửu đỉnh, cho chạm hình tượng sông Bến Nghé lên Cao đỉnh. Năm Tự Đức thứ 3, 1850, sông Bến Nghé được liệt vào hàng sông lớn nổi tiếng của đất nước, được đưa vào trong tự điển, hàng năm triều đình cử quan viên đến tế thần sông.

Khi người Pháp đánh cướp nước ta, họ cho tàu chiến tiến vào Sài Gòn theo đường sông này. Nhà thơ yêu nước - Cụ Đồ Chiểu đã viết về Bến Nghé buổi ấy như sau:

“Bến Nghé của tiền tan bọt nước
Đồng Nai tranh ngói nhuốm màu mây”...

Về sau cụ được người nhà đưa về lánh nạn ở Ba Tri thuộc tỉnh Bến Tre ngày nay.

Bến Nghé thực sự là con sông lớn đã tạo nên nhiều chi mạch giao thông tiện lợi cho tàu thuyền tấp nập lui tới thành Gia Định buôn bán. Từ đây có đường thông ra biển Đông; rất thuận lợi cho các tỉnh miền Đông Nam Bộ nước ta trong sự hội nhập với thế giới ngày nay.

Để mua ve may bay di huexin vui lòng liên hệ với chúng tôi.

0 nhận xét
Nhãn: , , , , , , , ,

Kỳ 2 - Những họa tiết khắc trên Cửu Đỉnh Huế


Cao đỉnh - tượng trưng cho sự vĩ đại (biểu tượng cho Vua Gia Long)

1. Cao Đỉnh - Đỉnh đặt ở chính giữa tượng trưng cho sự vĩ đại TRĨ 稚

2. Trĩ (稚), tức là con chim trĩ, là loại chim quí. Do đặc điểm tự nhiên, ngày xưa người ta thường bảo, chỗ của nó bay hay đậu là chỗ rất sạch, nghĩa là nơi ấy môi trường trong lành; loài chim trĩ có cá tính rất lạ, nếu chẳng may bị bẫy mắc lưới liền tự tử, nên nó được xem là loài chim có khí tiết ngay thẳng. Chim trĩ trống có mào, đuôi dài, thân nhiều màu sắc, hay chọi nhau. Sách Cầm kinh nói: con nào lông đỏ màu vàng gọi là miết trĩ, lông trắng gọi là hãn trĩ, lông đen gọi là hải trĩ, lông ở trên lưng có nhiều màu sắc gọi là phỉ thúy trĩ, loài giống rất nhiều, nhưng giống chim trĩ trắng là quí hơn cả. Sách An Nam chí chép rằng: Thời vua Thành Vương nhà Chu, người ở xứ Việt Thường sang dâng chim trĩ trắng; thời vua Quang Vũ nhà Hán, các quận Nhật Nam và Cửu Chân đều có dâng chim trĩ trắng. Sách Lễ ký chép rằng: “Chim trĩ bay xuống biển hóa thành con sò”, tức là nói về loài chim này. Xem vậy đủ biết chim trĩ là loài chim quí hiếm ví như “thần điểu” từ ngàn xưa đã có nhiều ở nước ta.Năm Minh Mạng thứ 17, đúc xong Cửu đỉnh, cho chạm hình tượng chim trĩ vào Cao đỉnh.

Theo Sách đỏ Việt Nam, giống chim trĩ có trĩ sao, trĩ đỏ, thuộc bộ gà. Nhìn chung loài chim trĩ có kích thước lớn, đuôi dài, nhất là con đực, bộ lông của nó có nhiều màu sắc đẹp. Cả con mái và con trống đều không có cựa. Chim trĩ sao kiếm ăn và làm tổ ở rừng thường xanh um trên các đỉnh và sườn đồi có độ dốc khác nhau, phổ biến hơn ở dưới 700 mét; chim trĩ đỏ thì chọn nơi thích hợp, quen hơn là vùng đồi núi thấp, không bao xa nương rẫy, không gặp rừng quá rậm.Chim trĩ là giống chim quí, ở Việt Nam trước đây thường gặp nhiều tại cánh rừng các tỉnh Cao Bằng, Lạng Sơn, Lào Cai, Bắc Cạn, Hòa Bình, Ninh Bình, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Đắc Lắc, Gia Lai, Kontum, Lâm Đồng...Chim trĩ là loài chim rất có giá trị khoa học cao, thẩm mỹ đẹp. Nó là một loài chim có “nhan sắc” nổi tiếng, được các nước trên thế giới rất ưa chuộng và nuôi nhiều để làm cảnh. Người xưa thường quan niệm, chim trĩ cũng là loài chim đem lại rất nhiều may mắn tốt lành.

Ngày nay, có rất nhiều nguyên nhân khiến rừng bị xâm hại, vì thế mà cá thể chim trĩ ở trên thế giới và Việt Nam còn lại rất ít, có nguy cơ mất giống nòi, nên nó đã được khẩn cấp đưa vào sách đỏ cần được bảo vệ.
MIẾT 鱉
3. Miết (鱉), tục danh con trạnh (25); lại gọi con đoàn ngư, hay con hà bá tòng sự. Con trạnh nhìn qua tương tự con rùa, bước đi của nó nặng nề, rù rờ, khập khiễng mà xa đến ngàn dặm cũng tới. Lại có một loại gọi là con nguyên. Các sách xưa chép rằng: con nguyên gần giống con trạnh mà to, thân rộng hơn, có con lớn từ 1 đến 2 trượng, đó là con vật đứng đầu các loài có mai vậy, tục gọi con giải. Sách Gia Định thành thông chí của Trịnh Hoài Đức chép rằng: Miết còn có tên nữa là hôn, đầu nhọn mà ở ria có thịt, tính hay cắn, thịt của nó có vị béo và ngon, con nhỏ càng ngon hơn. Nên tục ngữ có câu: “rùa dùng cân, trạnh dùng lạng”, ý nói rùa nên dùng con to, còn trạnh (miết) dùng con nhỏ, thịt mới ngon. Các nhà Đông y xem thịt và máu của con trạnh có nhiều dược tính, bổ dưỡng, có tác dụng nhanh với người lớn tuổi yếu chân, suy lực. Vùng sông nước của xứ nào ở Việt Nam hễ có vực sâu thường có trạnh sống. Lại có giống trạnh (hôn) sống ở biển, giá trị kinh tế rất cao.

Năm Minh Mạng thứ 17, đúc xong Cửu đỉnh, cho chạm hình tượng con trạnh vào Cao đỉnh.Ở Huế bây giờ, có câu chuyện kể về con trạnh, mang màu sắc thần bí, rằng mấy chục năm qua, những người dân hành hương hay sang đò sông Hương, đoạn ngang chân núi Ngọc Trản, để lên điện Hòn Chén dâng hương cầu nguyện Thần nữ Thiên Y A Na và Mẫu Liễu Hạnh, thỉnh thoảng vẫn gặp con vật này nổi lập lờ trên mặt nước để thở, thân hình nó to như “tấm phản”, không hiểu là con gì mà hơi giống rùa, lại trông giống con ba ba. Nên người ta mới có câu: “Đầu ghềnh có con ba ba. Kẻ kêu con trạnh, người la con rùa”, hóa ra con này, tức con trạnh. Tương truyền, dưới triều Đồng Khánh, nhà vua cơ thể bị suy nhược lại hay mê tín, ông tự nhận mình là đệ tử của Nữ thần thờ ở điện này, nên đã cho người đem về thả ở vực sâu dưới chân núi Hòn Chén mấy con trạnh. Bây giờ thì chúng đã quá già. Vì vậy mà nhiều người xem con trạnh cũng là loài “vật thiêng” trong tứ linh. Và cái vực sâu của sông Hương dưới chân Hòn Chén, nơi mà “mấy con trạnh” đang sống cũng được xem là một huyệt chủ rất linh diệu của cuộc đất đã góp phần làm nên vị trí Thần kinh xứ Huế.



Để mua ve may bay di huexin vui lòng liên hệ với chúng tôi.

0 nhận xét
Nhãn: , , , , , , , ,

Cùng đi du lịch ở xứ huế - giọng nói là quê hương


XỨ HUẾ: GIỌNG NÓI LÀ QUÊ HƯƠNG

Xứ Huế: Giọng nói là quê hương. Du lịch Huế. Du lịch Việt Nam, du lich Hue. Thong tin du lich Hue.
“Anh yêu là yêu bởi cái chân chất, hiền lành của em chứ không phải yêu cái gì ‘thời thượng’. Em hãy luôn là chính mình và giữ mãi giọng nói của quê mình em nhé!” Đây là câu nói mà một đôi lứa yêu nhau nhắc nhở giữ giọng nói như bản sắc của quê hương mình.

  Giọng nói là quê hương

Khoa học vẫn chưa xác định được giọng nói khác nhau ở các vùng miền, lãnh thổ do yếu tố nào chi phối. Thổ ngữ thường biểu hiện sự khác biệt về thể chất, tính khí của dân tộc. Về mặt thổ nhưỡng, có người cho rằng nơi nước trong thì tiếng nhỏ, nước đục thì tiếng thô. Đó là một ý kiến dựa trên quan sát thực tế, ngoài ra còn có rất nhiều quan điểm giải thích hiện tượng này. Có quan điểm cho rằng do thổ nhưỡng nguồn nước, có quan điểm cho rằng do vị trí địa lí, hay thổ nhưỡng chất đất. Cách nhau mười mấy cây số là đã nói giọng khác nhau rồi. Hay dù uống chung nguồn nước nhưng bên này sông giọng khác, bên kia sông nói giọng khác. Giọng nói quan trọng vì nó như là biểu hiện âm thanh cho người ta nhận biết được quê quán xuất xứ của một người. Giọng nói còn có ý nghĩa tinh thần liên hệ với nơi chôn nhau cắt rốn, nơi con người ta sinh ra và lớn lên. Chỉ cần nghe chất giọng đó vang lên là người ta bồi hồi nhào đến nhận đồng hương. Khi đi xa, ở chốn đất khách thì một thoáng quê hương như vậy làm con người ta rất ấm lòng. Nói bằng giọng đó, nghe với giọng đó, người ta như sống lại những ngày tháng ở quê hương. Kỷ niệm của thời đã xa cứ thế ùa về, và ngày trở lại thăm quê cứ hiển hiện trong tâm trí. Dải sơn hà Tổ quốc ta trải dài từ nam chí bắc, nên giọng nói cũng phân vùng theo tông giọng Bắc – Trung – Nam. Trong tất thảy các thứ tiếng, thứ giọng, tiếng và giọng Huế có tính đặc thù. Người ta ít thấy người Nam nói giọng Huế hay người Bắc nói tiếng Nam mà thường thấy người Huế thay đổi giọng theo môi trường và hoàn cảnh sử dụng. Có một nguyên nhân khá rõ là do người Huế có thể nghe âm và nhại âm theo giọng Nam, Bắc, nhưng giọng Huế nói ra thì người Nam, Bắc khó nghe hết cho suôn. Có thể mường tượng theo phương chiều, nếu giọng Bắc có phương nghiêng bên trái, giọng Nam bên phải thì giọng Huế có phương thẳng đứng. Tính trên dải dất miền Trung thì nam miền Trung từ Đà Nẵng trở vào có giọng gần với người Nam hơn. Bắc miền Trung thì xứ Thanh, xứ Nghệ có nhiều âm, nhiều điệu giọng người Bắc hơn. Trong khu Bình - Trị - Thiên, thì giọng Huế có vẻ tròn âm nhất, cứ nghe qua giọng Quảng Trị, Quảng Bình thì biết. Nhưng điều đặc biệt nhất là người Huế mà không nói giọng Huế thì đừng nhận là người Huế, giọng nói thực sự là quê hương.

Cái âm trọ trẹ rứa mà thương!

Giọng nói rất thiêng liêng, nó như được tích tụ từ hồn núi sông vì thế đánh mất giọng nói của mình là chối từ, cả quê cha đất tổ, cả giòng họ tông đường, ít nhất là đối với người Huế. Những người đi xa vì để thuận tiện trong giao tiếp người ta phải dùng những từ phổ thông toàn dân hay cố gắng làm giọng mình nhẹ hơn, thay đổi chút ít cho phù hợp, mềm và dễ nghe. Nhưng hạnh phúc nhất, sướng nhất vẫn là được nới giọng nói của quê hương mình, giọng cha sinh mẹ đẻ. Tiếng Huế có khi nghe lạ tai với những từ như chi, mô, răng, rứa , tê, chừ, ni, nớ, hỉ, hả, hí... Đây là những từ mà những từ mà muốn biết thì phải tra từ điển ‘sống’ gốc Huế! Những từ này thường giữ vai trò làm âm điệu và cách nói của người Huế trở nên đặc trưng hơn. Nghe ra “Rứa khi mô anh vô trong nớ thì cho em gởi lời hỏi thăm Bác với hí” thì thấy âm điệu trầm bổng thật khác thường. Câu nói này thật ra là “Lúc nào anh vào thì em gửi lời thăm Bác trong đó”. Cũng có lúc giọng Huế rất khó nghe, dễ gây bối rối ở những người ở các địa phương bạn. Người Huế khi nói chuyện với nhau dùng rất ít chữ, câu nói ngắn, gọn mà hàm súc ý. Với họ, việc diễn tả ý tưởng của mình bằng vài chữ sơ sài là một chuyện thường như cơm bữa. Vẫn biết mi là mày, mấy là bao nhiêu, nhưng ‘mi mua mấy?’ thì nghe khác với ‘mày mua cái đó giá bao nhiu dzậy?’ hay ‘thế cái đó có giá bao nhiêu?’ Người Huế nói ít mà hiểu nhiều, nếu thực sự là Huế và Huế với nhau. Người Huế cũng thường dùng những từ rất Huế, của riêng Huế để nói chuyện với nhau. Âm vực khó, khác lạ, không cao không thấp, ít thanh. Giọng bình, trung tính. Người vùng khác thường nói giọng Huế trọ trẹ. Nhưng đúng là cái âm trọ trẹ nghe rứa mà thương.

Một tài liệu thổ âm xứ Huế lại cho rằng dòng sông Hương có ảnh hưởng đến giọng Huế bởi vì dòng sông Hương chảy qua lòng thành phố Huế nên người Huế rất sâu sắc, thâm trầm.

“Con sông dùng dằng, con sông không chảy
Sông chảy vào lòng nên Huế rất sâu”
Thu Bồn
Huế ảnh hưởng của thổ âm vùng Bình Trị Thiên nhưng giọng Huế lại nhẹ nhàng và thanh tao hơn. Các thổ âm chỉ được nói ở các vùng quê nằm lân cận và hay pha các tỉnh bạn. Riêng kinh đô Huế, là một trung tâm văn hóa quan trọng, nơi có chút tính quý tộc, nên giọng Huế ở ngay kinh thành thì như là một thứ ‘đặc sản’ của giọng và tiếng Huế nói chung.

“Giữ chút gì rất Huế mặn mà
Dạ thưa ngọt lịm ai mê say
Và hơi thở mềm, sương khói bay”
Huỳnh Hữu Dụng


Nếu lại được em ru bằng giọng Huế
Được vỗ về như mạ hát ngày xưa
Câu mái đẩy chứa chan lời dịu ngọt
Chết cũng đành không nuối tiếc chi mô”
Tô Kiều Ngân
Cũng bởi thế mà cho dù đi đâu về đâu, hay người ta có đến Huế mấy lần đi nữa thì vẫn thấy Huế có chút gì đó thuỷ chung, vẫn truyền thống, khuôn phép qua giọng nói:


“Dạ thưa xứ Huế bây giờ
Vẫn còn núi Ngự bên bờ sông Hương”
Bùi GiángGiữ tiếng như một tấm lòng
Ý nghĩa là thế, nên thơ là thế, nhưng hoàn cảnh đôi lúc lại khác. Xu thế chung nên các ca sĩ thành danh thường Bắc chinh, Nam tiến. Có người mỗi khi xuất hiện trên truyền hình thường thay đổi giọng nói của mình, giả giọng để nghe phổ thông hơn chứ không giữ giọng Huế nữa. Cũng có người đang hát ở cố kinh nhưng chỉnh giọng khác đi để chứng tỏ mình đã hội nhập. Đôi khi việc làm này tạo nên sự khó nghe và phản cảm không những đối với người Huế, mà còn đối với du khách. Đến Huế họ muốn nghe được tiếng Huế, nghe như để tiếp cận một khía cạnh của con người Huế và văn hóa Huế. Thực tế thì không ai đến Huế để nghe, để thấy bản sắc phai mờ.

Giọng Huế cũng là một thứ quý để mang đi xa. Ai đã nghe giọng bà Tôn Nữ Thị Ninh, người giữ nguyên giọng Huế khi là người phát ngôn của Bộ Ngoại giao Việt Nam thì đồng ý với nhận định trên đây. Người ta nhận ra bà là người ở đâu không chỉ qua tên họ của bà. Phát thanh viên ở Huế vẫn có những chương trình phát trên truyền hình, phát thanh trung ương. Giọng vẫn hay, trầm ấm mà lời nghe vẫn rất rõ. Ca sĩ Hương Mơ và cùng nhiều người khác nữa, dù lập nghiệp xa nhưng vẫn luôn nói giọng Huế quê hương. Có quý mới có người ở xa về thấy thoải mái, thấy sướng khi được nghe, được nói giọng của quê hương, được dùng những từ địa phương rất chi là Huế. Nhiều nhóm xa quê lúc tìm nhau đem quà là giọng Huế, nói chuyện bằng giọng Huế cho đỡ nhớ, bởi lâu không nói thấy thèm!

Để mua ve may bay di hue, xin vui lòng liên hệ với chúng tôi.

0 nhận xét
Nhãn: , , , , , ,

Cùng đi du lịch nghe hò xứ huế



Nghe hò nhớ Huế. Du lịch Huế. Du lịch Việt Nam, du lich Hue. Thong tin du lich Hue.
"Biết ở đâu là cầu Ô Thước
Mênh mông nguyện ước, dưới nước trên trời.
Đêm khuya ngớt tạnh mù khơi,
Khúc sông quạnh vắng, có người sầu riêng."

Tiếng hò theo đò từ xa lại gần rồi lại đi xa, không biết cô lái đò từ đâu đến và đi về đâu, cơ thể dẻo dang làm sao, mặt mũi duyên dáng đến mức nào. Chỉ nghe được lời thổn thức của cô lái đò, gởi gắm tâm tình vào sông, vào nước.

Câu hò xao xuyến, bay bổng, điệu hò chậm rãi, miên man, tiếng hò bâng khuâng, da diết, trong đêm thâu làm chạnh lòng hơn một người.

Người dân xứ Huế dễ rung động với đồng ruộng, sông nước, rừng rậm, cây ngàn. Vì vậy trong đời sống họ hay biểu lộ tâm tình qua những câu hò, điệu hát. Riêng chỉ câu hò đã có cả chục điệu. Trong công việc đồng áng khi đạp nước, đạp lúa, họ cố quên thời gian với những câu hò ô thiết tha, trầm bổng. Khi đập đất, đắp nền, họ trêu chọc nhau với những câu hò hụi lưu loát, linh hoạt. Khi làm đường, đắp đê, họ khuyến khích nhau qua điệu hò nện dồn dập, khẩn trương. Khi kéo bè, kéo gỗ, họ động viên nhau với những điệu hò kéo thác mạnh mẽ, khoẻ khoắn. Khi xay lúa, giã gạo, họ đố đáp nhau qua những câu hò giã gạo sôi động, hào hứng.

"Cây chi trong rừng không lá,
Cá chi dưới biển không xương
Trai nam nhơn giải đặng, thiếp xin kết nghĩa tao khang với chàng...
Cây xương rồng trên rừng không lá,
Con sứa dưới biển là cá không xương,
Anh nay đà đối đặng, em phải kết nghĩa cương thường với anh."

Ở nhà, hò ru con là điệu hò ngọt ngào, êm ái thường ngày mà bà mẹ nào cũng biết. Đứa con nhỏ nào mà không lớn lên với những bài học từ thuở dại thơ.

"Ru con cho théc cho muồi,
Cho mẹ đi chợ mua vôi ăn trầu.
Mua vôi chợ Quán, chợ Cầu,
Mua cau Nam Phổ, mua trầu chợ Dinh.
Chợ Dinh bán áo con trai,
Triều Sơn bán nón, Mậu Tài bán kim."

Trong số các điệu hò nầy, hai điệu được phổ biến rộng rãi có lẽ là hai điệu chèo đò, giống nhau trong câu hát, chỉ có khác nhau chút ít trong cách diễn tả. Hò mái nhì là điệu hò nổi tiếng nhất, buông lơi, man mác, thường được nghe trên dòng sông trầm lặng, độc diễn, nhưng cũng có khi đối đáp giữa hai người cùng nhau tâm sự, kẻ xướng, người xô, gởi lòng vào mây nước trong đêm vắng như hai nhân tình cùng nhau thỏ thẻ mối tình dưới trăng thanh.

Trai:      "Em về ngược gió xang mưa
Thuận buồm xuôi gió biệt mông xa chừng.
Em về anh cũng muốn về theo
Lên truông cát nóng lội đèo đá dăm."
Gái:      "Cát nóng em đưa lưng em cõng
Đá dăm em lượm sạch đường anh đi."

Gần gũi với hò mái nhì là hò mái đẩy, rắn rỏi, dồn nén, thường vang vọng trong khúc sông nước xiết hay ở đầm phá sóng to, gió lớn, người lái đò phải vững tay giữ chèo cho nên điệu hò bớt lơ lửng mà dứt khoát, chắc nịch.

"Một mình cả chống cả chèo
Không ai tát nước đỡ nghèo một phen."

Cách ngân nga của điệu hò mái nhì, mái đẩy thật là đặc biệt, nhất là khi do một nghệ sĩ người Huế biểu diễn. Câu hò bắt đầu với những ò ơ à ơ dài dăng dẳng tưởng không khi nào ngớt. Rồi khi câu hò thật sự bắt đầu, mới được hai chữ lại còn ờ ơ à ơ, xem như người hò chần chừ không muốn đi ngay đến đích để người nghe thưởng thức tiếng ngân của mình. Ngày nay, như múa rối nước lên đường Nam tiến, hát cải lương lấn bước miền Bắc, ca hò Huế cùng bún bò, bánh bèo,... phân tán khắp đất nước, vượt biên ra cả nước ngoài.

Trước thế kỷ 14, xứ Huế còn là vùng đất của người Chàm. Theo bước chân công chúa Huyền Trân, người Việt từ miền Bắc mới dần dần vào hai châu Ô, Rí khai khẩn đất hoang, sống chung với người dân bản địa. Theo những nhà chuyên khảo, ca hò Huế là hệ quả giao lưu giữa văn hoá Champa và văn hoá Việt Nam. Họ khám phá ra, bên cạnh những điệu nam ai, nam bằng, giai điêu lơ lớ tức là hơi nam giọng ai hay ngũ cung ai của hò mái nhì, mái đẩy (do, re non, fa già, sol, la non) là một kết hợp của ngũ cung đúng miền Bắc (do, ré, fa, sol, la) với ngũ cung oán nhạc Champa (do, mi, fa, sol, la). Đặc biệt là kết hợp nầy chỉ giới hạn ở vùng Bình Trị Thiên, tức là ba tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên, không lan vào miền Nam cũng không tràn ra miền Bắc.

Trong lúc chờ đợi, giao lưu Pháp - Việt, sau gần một thế kỷ sống chung và mấy chục năm chinh chiến, lại trên đường nối tiếp. Riêng đối với Huế, hai Festival 2000 và 2002 vừa qua đã là dịp để cho các đoàn văn nghệ Pháp trình bày với công trình đất Thần kinh một mặt văn hoá nào của xứ sở Rousseau và Voltaire. Ngược lại, những đoàn ca hát Huế, Phú Xuân hay Trường Đại học Nghệ thuật, ban nhạc Cung đình hay nhóm tụng kinh niệm Phật của mấy vị tu sĩ cũng đem lai cho thính giả Pháp những làn điệu xa xăm, có khi lạ thường. Thật ra, những câu hò Huế đã từng được thưởng thức trên sâu khấu Paris, ngay cả trong vở múa nhạc Khúc nguyện cầu trong ấy nghệ sĩ Ea Sola khai thác mặt ảm đạm, âu sầu của các câu hò mái nhì, mái đẩy thay vì sử dụng điệu hò đưa linh thấy như còn não nùng, ai oán hơn, góp phần xoa dịu khổ đau của những kẻ mất mát người thân.

Đêm năm canh ngày sáu khắc con ve kêu giục giã,
Con đương mơ màng sực nghe tiếng mẹ kêu.
Muốn tìm mẹ tìm sao đặng mẹ,
Tây phương đất Phật mẹ đi không về.

Mùa thu năm vừa qua, nhân buổi gặp mặt với nữ sĩ Tôn Nữ Hỷ Khương ở Phật đường Khuông Việt tại Orsay, ngoại ô nam Paris, những người bạn Huế, đồng bào hâm mộ thơ nhạc lại được thưởng thức những câu hò gợi biết bao thương nhớ.

Chiều chiều trước bến Văn Lâu,
Ai ngồi, ai câu, ai sầu, ai thảm,
Ai thương, ai cảm, ai nhớ, ai trông?
Thuyền ai thấp thoáng bên sông
Đưa câu mái đẩy, chạnh lòng nước non.

Ngoài hò mái nhì, mái đẩy bên cạnh thơ văn đủ loại, cụ Ưng Bình còn có những câu hò giã gạo có tính cách trào phúng, ít được biết.

Áo Lơ-muya với giày cao gót
Theo em, theo chị cái mốt tân thời.
Vỏ ngoài che đậy mà chơi,
Tháo ngay trong dạ để gương đời soi chung.

Thấy ra hò thật là một thể loại dân ca rất được truyền tụng ở xứ Huế, một kho tàng văn nghệ dân gian phong phú, có thể là nơi tập trung nhiều điệu hò nhất trong một diện tích nhỏ hẹp miền Trung. Người con dân nào đã sống lên ở Huế mà không nuôi dưỡng trong lòng một bầu hò đầy kỷ niệm thơ mộng.

Để mua ve may bay di hue, xin vui lòng liên hệ với chúng tôi.

0 nhận xét
Nhãn: , , , , ,

Cùng đi du lịch huế ở lăng vua Minh Mạng


Du lịch Huế - Lăng vua Minh Mạng. Du lịch Việt Nam, du lich Hue. Thong tin du lich Hue.

Lăng Minh Mạng còn gọi là Hiếu lăng ( do vua Thiệu Trị cho xây dựng), nằm trên núi Cẩm Khê, gần ngã ba sông Bằng Lãng là nơi hội lưu của hai dòng Hữu Trạch và Tả Trạch hợp thành sông Hương, cách cố đô Huế 12 km. Lăng Minh Mạng được xây dựng từ năm 1840 đến năm 1843 thì hoàn thành, huy động tới mười nghìn thợ và lính.

Trong khoảng diện tích được giới hạn bởi vòng La thành dài 1.750 m lăng Minh Mạng là một quần thể kiến trúc gồm cung điện, lâu đài, đình tạ được bố trí đăng đối trên một trục dọc theo đường Thần đạo dài 700 m, bắt đầu từ Đại Hồng Môn , xuyên qua một loạt các hạng mục công trình gồm: cửa chính, sân chầu, nhà bia, sân tế, Hiển Đức môn, điện Sùng Ân (thờ vua Minh Mạng và Hoàng hậu), hồ Trừng Minh, Minh Lâu, hồ Tân Nguyệt (trăng non), cổng tam quan Quang Minh Chính Trực, Trung Đạo kiều và cuối cùng là Bửu thành (mộ vua Minh Mạng). Hình thể lăng tựa dáng một người nằm nghỉ trong tư thế thoải mái, đầu gối lên núi Kim Phụng, chân duỗi ra ngã ba sông ở trước mặt, hai nửa hồ Trừng Minh như đôi cánh tay buông xuôi tự nhiên.

Từ ngoài vào trong, các công trình được phân bố trên ba trục song song với nhau mà Thần đạo là trục trung tâm. Xen giữa những công trình kiến trúc là hồ nước ngát hương sen và những quả đồi phủ mượt bóng thông, tạo nên một phong cảnh vừa hữu tình vừa ngoạn mục.

Mở đầu Thần đạo là Đại Hồng Môn, cổng chính vào lăng, xây bằng vôi gạch, cao hơn 9 m, rộng 12 m. Cổng này có ba lối đi với 24 lá mái lô nhô cao thấp và các đồ án trang trí cá chép hóa rồng, long vân... được coi là tiêu biểu của loại cổng tam quan đời Nguyễn. Cổng chỉ mở một lần để đưa quan tài của vua vào trong lăng, sau đó được đóng kín, ra vào phải qua hai cổng phụ là Tả Hồng Môn và Hữu Hồng Môn.

Hoằng Trạch Môn là công trình kết thúc khu vực tẩm điện mở ra một không gian của hoa lá và mây nước phía sau. Tất cả những công trình mang tính hiện thực dường như dừng lại ở khu vực tẩm điện. Từ đây, bắt đầu một thế giới mới đầy thư nhàn, siêu thoát và vô biên. 17 bậc thềm đá Thanh đưa du khách vào khoảng trời xanh mát bóng cây và ngát thơm mùi hoa dại.
Ở giữa hai hồ Trừng Minh và Tân Nguyệt, trên đường thần đạo, là Minh Lâu. Minh Lâu nghĩa là lầu sáng, nơi nhà vua suy tư vào những đêm hè trăng thanh gió mát, là nơi đi về của linh hồn tiên đế, là dấu chấm vuông kết thúc một thế giới hữu hạn; là “bộ ngực kiêu hãnh” của “con người” được ví bởi hình dáng của khu lăng. Minh Lâu là sự thể hiện cách lý giải về vũ trụ và nhân sinh quan của người xưa. Tòa nhà này hình vuông, hai tầng, tám mái, là một biểu trưng của triết học phương Đông

Một cái hồ hình trăng non tên là Tân Nguyệt ôm lấy Bửu Thành. Bửu Thành là một quả đồi thông hình tròn, bao quanh bởi tường thành, bên trong, sâu bên dưới là mộ vua. Đây là hình ảnh của thế giới vô biên. Hồ trăng non ví như yếu tố "Âm" bao bọc, che chở cho yếu tố "Dương" là Bửu Thành - biểu tượng của mặt trời. Kết cấu kiến trúc này thể hiện quan niệm của cổ nhân về sự biến hoá ra muôn vật. Đó là nhân tố tác thành vũ trụ.

Cầu Quang Minh Chính Trực có 33 bậc tầng cấp dẫn vào nơi yên nghỉ của nhà vua, nằm giữa tâm một quả đồi mang tên Khải Trạch Sơn, được giới hạn bởi Bửu Thành hình tròn. Hình tròn này nằm giữa những vòng tròn đồng tâm biểu trưng, được tạo nên từ hồ Tân Nguyệt, La Thành, núi non và đường chân trời như muốn thể hiện khát vọng ôm choàng trái đất và ước muốn làm bá chủ vũ trụ của vị vua quá cố.

Phía sau Bửu thành là rừng thông xanh thẳm, đem lại một cảm giác u tịch. Trên mặt cắt kiến trúc dọc theo đường thần đạo, các công trình cao thấp theo một nhịp điệu vần luật nhất quán, âm dương xen kẽ, tạo nên nét đẹp riêng cho công trình kiến trúc lăng tẩm này. Bố cục kiến trúc đăng đối của các hạng mục chính trong lăng đem lại cho lăng một vẻ uy nghiêm cần có của công trình lăng mộ. Tuy vậy, ở ngoài rìa, men theo con đường dạo quanh co vòng quanh hai hồ nước và viền xung quanh lăng, xen lẫn với cây cối có các công trình kiến trúc nhỏ dùng để nghỉ chân ngắm cảnh như: đình Điếu Ngư, gác Nghênh Phong, hiên Tuần Lộc, sở Quan Lan, Tạ Hư Hoài ... làm cho toàn bộ quần thể lăng uy nghiêm nhưng vẫn hài hòa với thiên nhiên và duyên dáng tráng lệ.

Hai bên trục chính của lăng có nhiều công trình phụ đối xứng nhau từng cặp một. Hiện nay các công trình như Tả Phùng trên Tịnh Sơn; Hữu Tùng Phòng trên Ý Sơn; Tuần Lộc Hiên trên Đức Hoá Sơn; Linh Phượng Các trên Đạo Thống Sơn; Truy Tư Trai trên Phúc Ấm Sơn; Hư Hoài Tạ trên đảo Trấn Thuỷ đều không còn tồn tại.

Bên cạnh hàng loạt các công trình kiến trúc có giá trị nghệ thuật và thẩm mĩ cao còn có gần 600 ô chữ chạm khắc các bài thơ trên Bi Đình, Hiển Đức Môn, điện Sùng Ân và Minh Lâu cũng là những tuyệt tác vô giá. Đó là một bảo tàng thơ chọn lọc của thi ca Việt Nam đầu thế kỉ 19.

Để mua ve may bay di hue, xin vui lòng liên hệ với chúng tôi.

0 nhận xét
Nhãn: , , ,

Hy hữu: Trộm trên chuyến bay của Vietnam Airlines



Trên chuyến bay mang số hiệu VN593 từ Hongkong về Hà Nội, 2 hành khách Trung Quốc đã lợi dụng lúc mọi người sơ hở lục lọi ngăn chứa hành lý để trộm đồ của khách.

V.L.H., - một hành khách trên chuyến bay VN593 từ Hongkong về Nội Bài của Tổng công ty Hàng không Việt Nam (Vienam Airlines), khởi hành lúc 14h30 ngày 29/10, cho hay, do hành trình bay dài (khoảng 4-5 tiếng) nên mọi người tranh thủ chợp mắt, nghỉ ngơi. Lợi dụng thời điểm này, có 2 hành khách người Trung Quốc (ngồi ghế 33C và 34C) bay cùng chuyến đã đi dọc máy bay, lục lọi nhiều lần một số ngăn chứa hành lý xách tay của người khác. Thậm chí, chúng còn mở một túi xách ra xem.
Phát hiện ra hành vi khả nghi trên, ngay lập tức, hành khách đã thông báo với tiếp viên. Sau khi nhận được tin báo, tổ tiếp viên đã cử người theo dõi hai hành khách Trung Quốc này và báo với cơ trưởng toàn bộ sự việc. Khi vào đến nhà ga, tổ tiếp viên đã bàn giao hai khách nghi vấn và hồ sơ vụ việc cho các cơ quan chức năng tại sân bay.
Sau đó, hành khách được yêu cầu ngồi trên máy bay để tiếp viên thông báo và hỏi xem có khách nào mất mát đồ đạc, tiền bạc gì không. Một vị khách người Nhật (ngồi ghế 32C) nói rằng bị mất tiền (số tiền lên tới hàng nghìn USD). Công an cửa khẩu Nội Bài đã tiến hành các biện pháp nghiệp vụ liên quan đối với hai khách Trung Quốc nhưng không tìm thấy số tiền người Nhật bị mất.
Hành khách đi máy bay cũng cần cảnh giác vì rất có thể, kẻ trộm là người đi cùng chuyến (ảnh minh họa)
Theo một nguồn tin, rất có thể số tiền này đã được chúng giấu đi hoặc chuyển lại cho đối tượng khác cũng đi trên chuyến bay này mà không bị phát hiện ra.
Công an cửa khẩu sau đó đã ra quyết định về xử lý vi phạm Quy chế xuất nhập cảnh Việt Nam đối với hai người Trung Quốc và buộc khách phải quay lại Hongkong vào ngày 30/10/2012.
Vietnam Airlines cho hay sẽ theo dõi chặt chẽ và phối hợp với cơ quan công an để tìm biện pháp hạn chế tình trạng này.
Cách đây hơn 5 tháng, cảnh sát Singapore cũng cảnh báo một băng tội phạm Trung Quốc chuyên trộm cắp tiền từ túi xách của hành khách khi họ ngủ trên các chuyến bay đến và đi khỏi nước này. Tin từ AFP cho hay, chúng thường làm việc theo nhóm từ 3-4 người trên mỗi chuyến bay, lợi dụng sự sơ hở trong khi lên máy bay hoặc khách ngủ say, đi vệ sinh để trộm đồ. Từ đầu năm đến tháng 6/2012, đã có 18 trường hợp khách Singapore báo cáo về hiện tượng trộm cắp trên máy bay.
Trước đó, một công dân Trung Quốc đã bị giam bốn tuần vì tội ăn cắp 800 USD và 3.000 đô la Hongkong (386 USD) từ túi xách của một người đồng hương trên chuyến bay đến Hongkong của hãng Singapore Airlines.
hangkhonggiare.com.vn [ Theo  aFamily]
__________________________________

0 nhận xét
 
Vé máy bay, Mua vé máy bay giá rẻ © 2012 | Designed by Canvas Art, in collaboration with Business Listings , Radio stations and Corporate Office Headquarters