Nhãn: , , , , , , ,

Cùng đi du lịch huế ở vườn quốc gia Bạch Mã

Du lịch Huế - Vườn Quốc gia Bạch Mã. Du lịch Việt Nam, du lich Hue. Thong tin du lich Hue.
Từ thành phố Huế xuôi theo quốc lộ 1A vào Đà Nẵng khoảng 40km, trước khi đến hầm Hải Vân, bạn rẽ vào con đường nhỏ lên Vườn Quốc gia Bạch Mã (VQGBM) nằm ngay cạnh chợ Cầu Hai, đi tiếp khoảng 3km bạn sẽ đến cửa chính vào vườn.

Bạch Mã là bức tranh hùng vĩ và thơ mộng được tạo thành bởi các dãy núi cao trùng điệp, là trung tâm dải rừng xanh tự nhiên còn lại duy nhất của Việt Nam và cũng là phần cuối cùng của dãy Trường Sơn Bắc kéo dài từ biên giới Việt - Lào ra tận biển Đông, trong đó đỉnh Bạch Mã cao 1.450m so với mực nước biển với phong cảnh ngoạn mục, nhiều đèo cao, thác nước. Khí hậu ở đây mát mẻ quanh năm, mùa hè từ 18 - 23oC và mùa mưa kéo dài từ tháng 9 đến tháng 1 năm sau được xem là nơi có lượng mưa lớn nhất Việt Nam, 8000mm/năm. Điều kiện nhiệt độ này chính là lý do từ những năm đầu thế kỷ XX, người Pháp đã xây dựng nhiều biệt thự, khách sạn và đường lên núi để biến nơi đây thành khu nghỉ mát lý tưởng. Năm 1925, một dự án thành lập Vườn Quốc gia Bạch Mã - Hải Vân để bảo tồn loài gà lôi lam mào trắng đã được trình lên Bộ Thuộc địa Pháp. Cho đến đầu những năm 1930, Pháp đã xây dựng 139 khu biệt thự, chợ, bưu điện và một con đường chạy ra tận quốc lộ 1A. Tuy nhiên, trong những năm chiến tranh sau này, quân đội Mỹ xây dựng sân bay trực thăng dã chiến trên đỉnh Bạch Mã và quanh khu vực này xảy ra nhiều trận chiến ác liệt. Một phần lớn rừng bị tàn phá nặng nề và các công trình biệt thự hầu hết chỉ còn lại dấu tích đổ nát. Năm 1988, khu rừng cấm Bạch Mã - Hải Vân được hoàn thành. Ngày 15/7/1991, Vườn QGBM chính thức được thành lập với diện tích 22.030ha.

Rừng Bạch Mã được cấu tạo bởi 2 loại rừng chính là rừng kín thường xanh mưa mùa nhiệt đới ở đai thấp dưới 900m và rừng kín thường xanh mưa mùa á nhiệt đới ở độ cao trên 900m. Khu rừng là ngôi nhà chung trú ngụ của hàng ngàn loài động thực vật khác nhau, nhiều loài đặc chủng, quý hiếm. Các nhà khoa học đã thống kê được 83 loài thú từ những giống động vật đang có nguy cơ tuyệt chủng đến những giống mới của thế giới và Việt Nam như hổ, vượn, voọc ngũ sắc, voọc vá chân nâu, sao la, gấu ngựa, báo gấm, khỉ mặt đỏ, mang lớn... Bạch Mã là nơi trú ngụ của 333 loài chim, tức là hơn 1/3 loài chim hiện có của nước ta. Nhiều loài chim đẹp và lạ như họa mi, khướu bạc má, chích chòe lửa, gà so, gà lôi trắng, gà lôi lam mào trắng và có đến 7 loài chim trĩ khác nhau, trong đó có loài quý hiếm như trĩ sao. Bạch Mã còn 256 loài bướm cùng nhiều loài bò sát, ếch nhái, cá và côn trùng trong đó 68 loài có tên trong Sách đỏ Việt Nam cần được bảo vệ nghiêm ngặt. Nhiều loài côn trùng kỳ lạ và độc đáo như bọ que có thân dài xương xẩu, màu sắc cơ thể giống như cành cây; kỳ nhông xanh cùng hàng đàn bướm màu sắc sặc sỡ rập rờn trên những khóm hoa hay đậu thành hàng trên vách đá rêu xanh. Các nhà khoa học đã lên danh sách 1406 loài thực vật ở nơi đây gồm những giống cây quý hiếm như trắc, trầm hương... và 338 loài cây có thể sử dụng làm thuốc nam. Một số cây dược liệu có giá trị lớn về kinh tế cần được bảo vệ và nhân giống như cây vàng đắng dùng chữa bệnh sốt rét và bệnh vàng da; cây hoàng tinh hoa trắng sử dụng làm thuốc bổ và chữa bệnh đau lưng. Một số loài lần đầu được phát hiện ở đây được đặt tên của vườn như Côm Bạch Mã, chìa vôi Bạch Mã. Vào khoảng thời gian đầu và cuối mùa mưa, rừng Bạch Mã còn sặc sỡ sắc màu của các loại hoa đỗ quyên, râu hùm, lan vani, trà hoa vàng cùng các giống nấm, địa y, dương xỉ thân gỗ có màu sắc và hình thù kỳ dị, phong phú...

Thời gian đến thăm vườn đẹp nhất trong năm từ tháng 3 đến tháng 9. Sau khi dừng chân nghỉ tạm ở trung tâm giới thiệu và đón tiếp du khách, bạn tiếp tục đi theo đường nhựa dài 14km ngoằn ngoèo đèo dốc dẫn lên đỉnh chính của Bạch Mã, nơi có khu nhà nghỉ chính, xây dựng theo phong cách lâu đài cổ kính được đặt tên theo các sản vật của rừng. Từ đây, bạn có thể lựa chọn nhiều tuyến tham quan trong khu vực. Trước hết là tuyến đường mòn Hải Vọng Đài dài khoảng 1km từ bãi đỗ xe lên đỉnh núi Bạch Mã. Từ đây bạn có thể quan sát cảnh đẹp tuyệt vời của toàn bộ rừng Bạch Mã, đầm phá Cầu Hai, cảng Chân Mây, bãi biển Cảnh Dương, Lăng Cô... Đi xuống từ đỉnh núi khoảng 2km theo đường dốc thoai thoải xuyên qua khu rừng á nhiệt đới, bạn tới thăm nhà sưu tập hàng trăm loài phong lan núi và các loài hoa khác. Từ nơi dừng chân, bạn cũng có thể đi theo đường mòn Ngũ Hồ qua cánh rừng có nhiều chim, bướm tới một loạt thác nước và 5 hồ trong xanh, phẳng lặng, còn nếu không đủ thời gian đi hết tuyến đường này, bạn có thể tách ra đi theo đường mòn đỗ quyên dốc thoai thoải tới đỉnh thác Đỗ Quyên với độ cao trên 300m, chiều rộng hơn 20m. Muốn thăm chim thú quý, bạn đi theo đường mòn Trĩ Sao dài khoảng hơn 2km, ngoài việc thưởng thức cảnh rừng và các hồ nước trong veo, bạn sẽ thấy khu vực này là nơi ở của các loài chim trĩ và heo, hươu, mang. Từ khu nhà nghỉ đi xuống 3km theo đường ô tô, bạn có thể rẽ vào đường mòn Chò Đen, một đoạn đường chỉ non nửa cây số nhưng rất dốc và khó đi, bạn sẽ bất ngờ khi tận mắt nhìn thấy nhiều cây cổ thụ cao ngất trên 30m và đều có đường kính trên 1m tụ họp với nhau san sát... Những du khách yêu nông nghiệp có thể lựa chọn đến các nhà vườn ở thôn Khe Su để tìm hiểu về đời sống canh tác của cư dân địa phương, rồi kết thúc chuyến du ngoạn sẽ là điểm dừng chân tại các suối thác đẹp như Thủy Điện, Đá Dựng để cắm trại và bơi lội thỏa thích.

Sau các cuộc đi rừng, lên thác, ngắm cảnh, du khách có thể quay về 4 nhà nghỉ tại khu vực đỉnh gồm Đỗ Quyên, Sao La, Kim Giao và Bạch Mã hoặc xuống các nhà nghỉ khác ở khu đón tiếp của các công ty du lịch Huế như Phong Lan, Cẩm Tú, Hoàng Yến... Các phòng nghỉ ở đây đều đầy đủ tiện nghi, một số phòng còn được thiết kế dành cho gia đình và tập thể với công trình phụ bên ngoài. Đặc biệt, những du khách yêu thích thiên nhiên có thể thuê trại dành cho 2 người hay 6 người để dựng trại nghỉ qua đêm ở bãi Thông Nàng, được tận hưởng vị sương lạnh của núi và nghe văng vẳng tiếng tâm sự của muông thú qua gió rừng thủ thỉ năm canh...





Để mua ve may bay di hue, xin vui lòng liên hệ với chúng tôi.

0 nhận xét
Nhãn: , , , , , ,

Cùng đi du lịch Huế ở núi Ngự Bình

Du lịch Huế - Núi Ngự Bình. Du lịch Việt Nam, du lich Hue. Thong tin du lich Hue.

Cùng với sông Hương, núi Ngự Bình là quà tặng vô giá thứ hai của tạo hoá, quyện vào nhau tạo nên vẻ sơn thủy hữu tình của Huế. Từ lâu, ngọn núi xinh đẹp này cùng với sông Hương trong xanh đã trở thành biểu tượng của thiên nhiên Huế. Vì vậy, người ta quen gọi Huế là xứ sở của sông Hương và núi Ngự.
Huế nổi tiếng không chỉ vì là nơi tập trung những đền đài lăng tẩm của các vua triều Nguyễn, nơi có những ngôi chùa, nhà thờ, đền đài nổi danh, nơi có những con người với danh xưng “người Huế trầm mặc”, mà Huế còn nổi tiếng vì có một thiên nhiên tươi đẹp. Đến Huế, cái cảm giác đầu tiên mà ta bắt gặp chính là đang bước vào một nơi tĩnh lặng, hiền hoà. Trước mắt du khách không phải đối diện với những ngọn núi cao hùng vĩ, chót vót, cũng không phải đối diện với những con sông dài rộng mênh mông sóng cuộn tung bờ mà là một cảnh quan rất thấp, rất nhẹ, rất êm, rất xinh và ngay cả du khách cũng sẽ tiếp xúc với một giọng nói cũng rất “ngang”. Tất cả đó là cảnh quan Huế mà nổi bật lên trên chính là sông Hương và núi Ngự. Con sông và ngọn núi biểu tượng của Huế. Đúng thế, như nhà thơ Bùi Giáng trả lời cho một ai đó hỏi về cảm tưởng của ông về Huế, ông chỉ cười và đáp:

“Dạ thưa xứ Huế bây giờ,
Vẫn còn núi Ngự bên bờ sông Hương”

Câu thơ lục bát rất đơn sơ, rất ca dao nhưng cũng “rất Huế”. Đừng ai hỏi Huế là gì? Huế là thế nào? Xin thưa “Huế là Huế” là “Hương Bình”.

Kinh qua bao nhiêu đổi thay, qua “bao lớp sống phế hưng”, Huế vẫn tồn tại với sông Hương và núi Ngự, với bao nhiêu nét đẹp đã đi vào thơ ca, đi vào lòng người.

Theo Đại Nam Nhất Thống Chí thì núi Ngự Bình có tên gọi là Bằng Sơn hay Bình Sơn, một ngọn núi không cao hình dáng giống cái bình phong, hai bên có hai núi đất là Tả Phù Sơn và Hữu Bật Sơn. Từ khi dời phủ về làng Phú Xuân và xây dựng chính dinh ở đây, chúa Nguyễn Phúc Thái tục gọi là chúa Ngãi, lấy Bằng Sơn làm tiền án ở mặt chính nam nên đổi tên là Ngự Bình Sơn. Từ đó về sau Ngự Bình Sơn là một trong những ngọn núi rất quan trọng trong việc xây dựng kinh thành Huế của các vua nhà Nguyễn. Ngay từ thời Nguyễn Huệ còn làm Bắc Bình Vương, khi nghe quân Thanh kéo 20 vạn quân sang xâm lấn nước ta, Nguyễn Huệ đã lập đàn tế cáo trời đất trên ngọn Hữu Bật Sơn, lên ngôi hoàng đế lấy niên hiệu là Quang Trung và tiến quân ra Bắc. Xem thế thì Ngự Bình là một ngọn núi rất quan trọng.

Ngày xưa từ chân núi lên đến đỉnh núi các vua chúa cho trồng thông, quanh năm xanh tốt. “Thông reo núi Ngự” chính là vì thế. Nhìn ngọn Ngự Bình cùng hai ngọn Tả Phù - Hữu Bật trông giống như con phượng hoàng đang xoè cánh che chở cho đế thành. Đây ngày xưa cũng là nơi dập dìu tới lui của các cặp tài tử giai nhân vào những tiết tốt như thanh minh, nguyên tiêu, trùng cửu. Đứng trên đỉnh Ngự, lắng nghe tiếng thông reo có thể thu vào tầm mắt toàn cảnh kinh thành Huế ẩn hiện những lâu đài thành quách, mái chùa cổ kính giữa một màu xanh của cây cối và sông Hương như giải lụa uốn lượn quanh co.
Ngay trước tầm mắt là các khu đồi, là rừng thông bát ngát tiếp đến một vùng đồng bằng rộng lớn của các huyện: Hương Thủy, Phú Vang, Hương Trà cỏ cây xanh rờn..., xa hơn là dãy Trường Sơn trùng điệp một màu tím thẫm ẩn hiện sau những tầng mây bạc. Nhìn về phía đông, là những dải cát trắng mờ phía xa cửa Thuận An với màu xanh thăm thẳm của Biển Đông. Núi không cao, không cheo leo gập ghềnh nhưng núi Ngự mang cái dáng vẻ của một con người trầm tư mặc tưởng, thanh thoát lâng lâng hồn người.
Cái đẹp của núi Ngự không phải là về mặt phong thủy che chở cho kinh thành Huế, cái đẹp của núi Ngự chính là chỗ nó gần gũi với dân Huế, nó trở thành một cái đài, một ngôi lầu cao vút và lên đó theo những bậc cấp nhân tạo người ta có thể phóng tầm mắt mình chiêm ngưỡng vẻ đẹp dịu hiền của thành Huế, lắng nghe những tiếng vọng từ bên dưới rất xa, và có cảm tưởng như mình đang ở vào một thế giới nào đó, thoát tục.
Đông qua, xuân lại, thời gian biến chuyển đổi thay, đã gần hơn nửa thế kỷ nay, cây cối trên núi hầu như không còn. Những năm gần đây, núi Ngự đã được sống lại. Từ xa du khách có thể thấy được các cụm thông trên núi, tuy chưa lớn lắm nhưng cũng đã phủ xanh được ngọn núi này, những ngày lộng gió, đứng dưới chân núi ta lại bắt đầu nghe điệu nhạc thông réo rắt. Và mấy năm trở lại đây, một nét văn hoá cố đô rất đáng hoan nghênh là vào những ngày đẹp trời, vào dịp Tết Nguyên đán, Tết Nguyên tiêu, trùng cửu, từng đoàn trai thanh gái lịch đã về đây, tiếp bước người xưa lên núi hái lộc, ca xướng ngâm vịnh. Cái sinh khí đã trở lại hứa hẹn cho Huế một tương lai sán lạn.

Cùng với sông Hương, núi Ngự Bình là quà tặng vô giá thứ hai của tạo hoá, quyện vào nhau tạo nên vẻ sơn thủy hữu tình của Huế. Từ lâu, ngọn núi xinh đẹp này cùng với sông Hương trong xanh đã trở thành biểu tượng của thiên nhiên Huế. Vì vậy, người ta quen gọi Huế là xứ sở của sông Hương - núi Ngự.





Để mua ve may bay di hue, xin vui lòng liên hệ với chúng tôi.

0 nhận xét
Nhãn: , , , , ,

Nữ phi công trẻ và cảm xúc giao thừa trên trời


“Những ngày Tết phải có những người làm để nhịp sống vẫn giữ được thăng bằng, để những chuyến bay là cầu nối đưa hành khách về sum họp cùng gia đình”- Nữ cơ phó Nguyễn Kim Châu chia sẻ.

Với dáng người khỏe khoắn, tóc cắt ngắn, chiếc răng khểnh duyên dáng mỗi khi cười, nữ cơ phó Nguyễn Kim Châu (1989)  là cô gái nhỏ tuổi nhất của Đoàn bay 919 - Tổng Công ty hàng không Việt Nam (Vietnam Airlines).
 
Hiện Châu đã có hơn 1.000 giờ bay an toàn. Châu tâm sự, việc cô đến với nghề phi công rất tình cờ. Học hết cấp 3, trong thời gian định đi du học, chỉ vì đọc qua một mẩu tin Vietnam Airlines tuyển phi công, Kim Châu đã quyết định đăng ký và trải qua các cuộc tuyển trạch gắt gao để được vào học lớp huấn luyện phi công.
 
Để có thể trở thành phi công, Châu đã phải trải qua những chuỗi ngày căng thẳng, chịu đựng gian khổ và rèn luyện ở các vòng kiểm tra thể lực nhịp tim huyết áp, bài thi trắc nghiệm phản xạ.... Sau đó, Châu  tiếp tục đi huấn luyện ở nước ngoài với hơn 200 giờ bay và hoàn thành một số bài thi để trở thành cơ phó.
 
“Để trở thành phi công, mỗi ngày học viên làm việc bắt đầu từ 4 giờ sáng, mải miết đến 24 giờ. Thời gian nghỉ đều phải tự ép mình vào những bài tập khắt khe để đảm bảo sức khỏe” - Kim Châu cho biết.
 
Có lẽ các lớp huấn luyện nghiêm khắc và đầy khổ cực đã tôi luyện cho Kim Châu trở thành một cô gái rắn rỏi và đầy bản lĩnh so với tuổi đời.
 
Là con cả trong gia đình, từ khi trở thành phi công, chưa bao giờ Kim Châu đón Tết trọn vẹn cùng ba mẹ và 2 em gái. Dịp Tết nào Châu cũng phải xa nhà, dù chỉ là những chuyến bay ngắn trong 3 ngày Tết.
 
Châu nghĩ nhưng ngày Tết phải có những người làm để nhịp sống vẫn giữ được thăng bằng, để những chuyến bay là cầu nối đưa hành khách về sum họp cùng gia đình.
 

Với nữ cơ phó Kim Châu, được phục vụ hành khách cũng là niềm vui lớn trong dịp Tết.
 
Lần đầu phải đón Tết trong khoang lái đóng chặt cửa, cô gái độc thân ấy không khỏi chạnh lòng với rất nhiều cảm xúc lạ và nỗi nhớ nhà.
 
Đêm chuyển giao năm mới, người người tụ họp hàn huyên chuyện cũ thì với Châu, khoảnh khắc giao thừa có khi chỉ là những đốm sáng nhỏ lóe lên rồi vụt tắt của chùm pháo hoa trên bầu trời, là tiếng ù ù bên tai của động cơ, là sự rung lắc của máy bay khi đi vào vùng gió…
Với Kim Châu được phục vụ hành khách cũng là niềm vui  lớn trong dịp Tết.
 
“Thấy mọi người quây quần bên nhau trong ngày Tết lại thấy nhớ nhà đến nao lòng. Đêm đêm, nhà nhà sum họp, cùng nâng ly chúc mừng năm mới thì những phi công vẫn lại chênh vênh trên trời. Nhưng mình hiểu, niềm vui của phi công là chuyến bay an toàn, giúp hành khách đoàn tụ cùng gia đình” - Kim Châu vui vẻ chia sẻ.
 
Đã từ lâu, những nữ phi công không còn khái niệm ngày cuối tuần hay lễ tết. Họ tính ngày tháng theo khái niệm ngày bay, ngày không bay, xa bố mẹ, chồng con.
 
Khi được chúng tôi hỏi, nghề vất vả thế liệu Châu có tính chuyện bỏ nghề không? thì Châu vừa lắc đầu vừa cười nói, mỗi người đều có sự lựa chọn về nghề nghiệp riêng và đã chọn nghề thì phải luôn tâm huyết mới làm tốt công việc được.
 
Có lẽ chính vì thế mà đêm giao thừa Tết này và sẽ nhiều đêm giao thừa nữa Kim Châu còn tiếp tục sát cánh cùng các chuyến bay để phục vụ hành khách đi lại trong dịp Tết.
 
 
Theo Tinmoi
 
 
 
 
 
 
__________________________________
Hàng Không Giá Rẻ chuyên cung cấp  cac ve may bay gia recac ve may bay gia totcac ve may bay di ha noi và cac ve may bay di hue ...

0 nhận xét
Nhãn: , , , , ,

Cùng mua vé đi du lịch Huế ở Cầu Trường Tiền


DU LỊCH HUẾ - CẦU TRƯỜNG TIỀN

Du lịch Huế - Cầu Trường Tiền. Du lịch Việt Nam, du lich Hue. Thong tin du lich Hue.
Cầu Trường Tiền hay còn được gọi là Cầu Tràng Tiền là chiếc cầu dài 402,60m; rộng 5,40m, có sáu vài và mười hai nhịp, được thiết kế theo kiến trúc Gô tích, mỗi nhịp có hình bán nguyệt, bắc qua sông Hương. Đầu cầu phía bắc thuộc phường Phú Hòa, đầu cầu phía nam thuộc phường Phú Hội; ở ngay giữa thành phố Huế.

Căn cứ bài thơ Thuận Hóa thành tức sự của nhà thơ Thái Thuận, thi sĩ Quách Tấn đã cho rằng dưới thời vua Lê Thánh Tôn, sông Hương đã có cầu. Và chiếc cầu đó, được làm bằng song mây bó chặt lại với nhau và nối liền nhau, nên có tên là cầu Mây. Rồi vì cầu có hình cái mống úp lên sông, nên còn có tên là cầu Mống. Trải bao năm tháng, không biết khi nào, cầu Mống được làm lại bằng gỗ, mặt cầu lát bằng ván gỗ lim.

Năm Thành Thái thứ 9 (1897), chiếc cầu trên được nhà cầm quyền Pháp (khi ấy Khâm xứ Trung Kỳ là Levécque) giao cho hãng Eiffel (Pháp) thiết kế (do Gustave Eiffel thiết kế) và khởi công xây dựng lại bằng sắt, đến năm Thành Thái thứ 11 (1899) thì hoàn thành và được mang tên vị vua này. Tổng cộng tiền xây cầu Thành Thái tiêu tốn hết khoảng 400 triệu đồng, là một số tiền lớn vào thời đó.

Năm Giáp Thìn (1904), bão lớn làm cầu hư hỏng nặng. Hai năm sau, tức năm Thành Thái thứ 16 (1906), chiếc cầu mới được sửa chữa lại bằng xi măng cốt thép. Tổng chiều dài cây cầu là 401,10m, rộng 6,20m, có 6 vài, 12 nhịp, mỗi nhịp được thiết kế hình bán nguyệt, các nhịp kế tiếp nhau làm thành một dải sóng đều đặn, mềm mại. Và diện mạo này, vẫn giữ được cho đến ngày hôm nay. Một năm sau, khi vua Thành Thái bị thực dân Pháp đày sang đảo Réunion, thì chính quyện thực dân Pháp cho đổi tên là cầu Clémenceau, theo tên của Georges Clemenceau, một Thủ tướng Pháp thời Thế chiến thứ nhất.

Đến năm 1937, cầu được mở rộng thêm hai hành lang ở hai bên, dành cho người đi bộ, xe đạp và những bao lơn (ban công) hình bán nguyệt được tạo ra ở 5 trụ cầu giữa 2 vai để có chỗ dừng chân, hay né tránh nhau.

Năm 1945 chính phủ Trần Trọng Kim đổi tên là cầu Nguyễn Hoàng.

Năm 1946, trong chiến tranh  cầu bị sập hai nhịp phía tả ngạn. Hai năm sau cầu được tu sửa để qua lại.

Trong Sự kiện Tết Mậu Thân, trụ 3 và nhịp 7 bị phá hủy. Một chiếc cầu phao được dựng lên tạm thời cho người qua sông và sau đó, cầu đã được sửa chữa lại.

Từ năm 1991 đến 1995, công ty Công ty Cầu 1 Thăng Long lãnh trách nhiệm trùng tu, xây lại hai nhịp cầu, đổi màu cầu từ màu dụ bạc sang màu lam. Tất cả các bao lơn cũng bị phá bỏ. Trước đây mặt cầu rộng 6m20, nhưng sau khi sửa chữa xong, chỉ còn 5m40, cho nên chỉ có xe loại nhỏ mới qua lại cầu được.

Mặc dù trải nhiều tên gọi, nhưng từ rất lâu, cái tên cầu Trường Tiền (vì chiếc cầu nằm gần một công trường đúc tiền, gọi tắt là Trường Tiền của nhà Nguyễn và phố Trường Tiền do vua Thành Thái lập năm 1899) vẫn được người dân quen gọi và đã đi vào nhiều bộ môn nghệ thuật... Hiện nay, cầu đã được gắn hệ thống đèn đổi màu làm mất đi nét đẹp vốn có của cây cầu.



Để mua ve may bay di hue, xin vui lòng liên hệ với chúng tôi.

0 nhận xét
Nhãn: , , , , ,

Cùng đi du lịch Huế ở chùa Thiên Mụ


Du lịch Huế - Chùa Thiên Mụ. Du lịch Việt Nam, du lich Hue. Thong tin du lich Hue.

Chùa Thiên Mụ nằm trên đồi Hà Khê, xã Hương Long, Tp. Huế, tỉnh Thừa Thiên - Huế. Chùa là một trong những kiến trúc tôn giáo cổ nhất và đẹp nhất ở thành phố Huế.

Chùa có nguồn gốc từ câu chuyện truyền thuyết:Năm Tân Sửu (1601) Đoan Quốc Vương Nguyễn Hoàng nhân đi du ngoạn các nơi núi non sông biển, khi đặt chân đến nơi đây thấy giữa chốn đồng bằng đột khởi một gò đồi cao dáng tựa như chiếc đầu rồng đang ngoái nhìn về phía núi mẹ, trước cuốn nước trường giang.

Cảnh trí tuyệt đẹp trong bụng lấy làm thích thú bèn leo lên trên đồi cao ngắm nhìn bốn phía xung quanh, chợt thấy một đoạn hào cắt ngang dưới chân núi, tìm hỏi người sở tại được họ tâu rằng: Núi này rất linh thiêng, đời nhà Đường có viên tướng là Cao Biền từng đi khắp đất nước ta xem những nơi nào có vượng khí linh thiêng thì cắt yểm đi. Cao Biền thấy trên núi này có khí thiêng bèn cho đào phía sau chân núi để cắt long mạch khiến cho về sau linh thiêng không tụ được...

Tháng 6 năm Giáp Ngọ (1714), Chúa Nguyễn Phúc Chu lại tiếp tục cho sửa sang và xây dựng thêm nhiều điện, đường huy hoàng, tráng lệ. Chúa tự làm một bài ký để ghi công đức của mình trong việc chấn hưng đạo Phật và những chi tiết mỹ thuật trong các bộ phận kiến trúc ở chùa rồi cho khắc vào một tấm bia lớn cao 2,6 m rộng 1,2 m dựng trên lưng một con rùa bằng đá cẩm thạch chạm trổ tinh vi. Chúa còn cho người qua Trung Quốc mua Đại tạng kinh và luật luận hơn một nghìn bộ đem về để tại chùa.

Cuối thế kỷ 18, chùa bị chiến tranh tàn phá nặng nề, năm 1815 và năm 1831, Vua Gia Long và Vua Minh Mạng cho trùng tu và sửa sang lại đẹp hơn. Năm 1844, Vua Thiệu Trị cho dựng thêm ngoài cửa Nghi Môn một cái tháp hình bát giác cao 21,24 m bảy tầng, mỗi tầng thờ một đức Như Lai, tầng cao nhất thờ Đức Thế Tôn. Tượng thờ ngày ấy đúc bằng vàng sau này được thay bằng tượng đồng. Vua đặt tên tháp là Từ Nhân, sau đổi lại là tháp Phước Duyên.

Trước tháp, Vua cho dựng Đình Hương Nguyện ba gian, bộ sườn bằng gỗ được chạm khắc công phu, tinh xảo, hai bên còn dựng thêm hai cái nhà để bia của Vua khắc vào năm 1846, mỗi bia cao 1,70 m rộng 0,9 m, bia bên hữu ghi nội dung kiến trúc tháp Phước Duyên và đình Hương Nguyện, bia bên tả ghi nhiều bài thơ của Vua.

Năm Giáp Thìn (1904), bão lớn ở Huế làm cho chùa bị đổ nát. Năm 1907, Vua Thành Thái cho trùng tu, quy mô chùa từ đây không còn to lớn như trước nữa nhưng vẫn cổ kính trang nghiêm.

Khuôn viên chùa được chia làm hai khu vực: Khu vực trước cửa Nghi Môn gồm có các công trình kiến trúc: Bến thuyền đúc bê-tông có 24 bậc tam cấp lên xuống, cổng tam quan là bốn trụ biểu xây sát đường cái, từ cổng tam quan bước lên 15 bậc tam cấp là đình Hương Nguyện (nay chỉ còn lại nền đất và bộ móng xây bằng đá thanh) sau đình Hương Nguyện là tháp Phước Duyên xây bằng gạch vồ bảy tầng cao vòi vọi, hai bên đình Hương Nguyện có hai lầu bia hình tứ giác (dựng thời Thiệu Trị), lui về phía trong có hai lầu hình lục giác một lầu để bia và một lầu để chuông (dựng thời Nguyễn Phúc Chu).

Thiên mụ là ngôi chùa cổ nhất, kiến trúc đồ sộ nhất và cũng là ngôi chùa đẹp nhất của xứ Huế. Vua Thiệu Trị liệt cảnh chùa Thiên Mụ vào một trong số 20 thắng cảnh của đất thần kinh trong bài thơ đề là Thiên Mụ chung thanh. Năm 1695, Chúa Nguyễn Phúc Chu đã mở đại giới đàn rất long trọng tại chùa Thiên mụ. Lịch sử huy hoàng của các Chúa Nguyễn trong quá trình khai phá, lập nghiệp ở Đàng trong có thể nói được mở đầu bằng công trình xây dựng chùa Thiên mụ.

Chùa Thiên mụ ngày nay vẫn huy hoàng, tráng lệ chính nhờ công lao trùng tu và xây dựng lại của Hòa thượng Thích Đôn Hậu. Những năm 1943 - 1945, chùa Thiên mụ lâm vào cảnh hoang tàn đổ nát, Hòa thượng Thích Đôn Hậu đứng ra nhận chức vị trụ trì. Bằng sự nỗ lực chưa từng có, Hòa thượng phát nguyện gây dựng lại ngôi chùa lịch sử trong suốt 30 năm. Đến mùa xuân năm 1968, chùa Thiên mụ đã trở lại phong quang tươi đẹp như xưa.

Đến với Thiên mụ, du khách không khỏi cảm kích trước vẻ đẹp thiên nhiên, trước công trình đời xưa để lại với ngọn tháp hùng vĩ đứng soi mình trên dòng Hương Giang duyên dáng. Nơi đây, từ bốn thế kỷ nay, sớm chiều tiếng chuông chùa ngân vang vọng cùng với khói hương ngào ngạt tỏa ra giữa thanh không vắng lặng, đã hấp dẫn và say đắm biết bao lòng người xứ Huế, và du khách bốn phương. Tiếng chuông chùa Thiên mụ từ bao đời đã đi vào ca dao, để lại nỗi nhớ nhung trong lòng người xứ Huế và bạn bè gần xa thiết tha với Huế.


Để mua ve may bay di hue, xin vui lòng liên hệ với chúng tôi.

0 nhận xét
Nhãn: , , , , , ,

Cùng mua vé đi du lịch Huế ở Đại nội


Du lịch Huế - Đại nội. Du lịch Việt Nam, du lich Hue. Thong tin du lich Hue.

Hoàng Thành nằm bên trong Kinh Thành, có chức năng bảo vệ các cung điện quan trọng nhất của triều đinh, các miếu thờ tổ tiên nhà Nguyễn và bảo vệ Tử Cấm Thành - nơi dành riêng cho vua và hoàng gia. Người ta thường gọi chung Hoàng Thành và Tử Cấm Thành là Đại Nội.

Hoàng Thành được xây dựng năm 1804, nhưng để hoàn chỉnh toàn bộ hệ thống cung điện với khoảng hơn 100 công trình lớn nhỏ thì phải đến thời vua Minh Mạng vào năm 1833 mọi việc mới được hoàn tất.

Hoàng Thành có 4 cửa được bố trí ở 4 mặt. Cửa chính (phía Nam) là Ngọ Môn, phía Đông có cửa Hiển Nhơn, phía Tây có cửa Chương Đức, phía Bắc có cửa Hòa Bình. Các cầu và hồ được đào chung quanh phía ngoài thành đều có tên Kim Thủy.

Hoàng Thành và toàn bộ hệ thống cung điện bên trong là khu vực cực kỳ trọng yếu, được phân bố chặt chẽ theo từng khu vực, tuân thủ nguyên tắc (tính từ trong ra): “tả nam hữu nữ”, “tả văn hữu võ”. Ngay cả trong các miếu thờ cũng có sự sắp xếp theo thứ tự “tả chiêu hữu mục” (bên trái trước, bên phải sau, lần lượt theo thời gian). Các khu vực đó là:

- Khu vực phòng vệ: gồm vòng thành bao quanh bên ngoài, cổng thành, các hồ (hào), cầu và đài quan sát.

- Khu vực cử hành đại lễ: gồm từ Ngọ Môn, cửa chính của Hoàng Thành - nơi tổ chức lễ Duyệt Binh, lễ Truyền Lô (đọc tên các Tiến sĩ tân khoa), lễ Ban Sóc (ban lịch năm mới)... đến Điện Thái Hòa - nơi cử hành các cuộc lễ Đại Triều một tháng 2 lần (vào ngày 1 và 15 Âm lịch ), lễ Đăng Quang, lễ Vạn Thọ, lễ Quốc Khánh...

- Khu vực miếu thờ: được bố trí ở phía trước, hai bên trục dọc của Hoàng Thành theo thứ tự từ trong ra gồm: bên trái có các miếu thờ Nguyễn Kim (Triệu Tổ Miếu), miếu thờ các vị chúa Nguyễn (Thái Tổ Miếu); bên phải có các miếu thờ Nguyễn Phúc Luân (Hưng Tổ Miếu) và miếu thờ các vị vua nhà Nguyễn (Thế Tổ Miếu).

- Khu vực dành cho bà nội và mẹ vua (phía sau, bên phải), gồm hệ thống cung Trường Sanh (dành cho các Thái hoàng Thái hậu) và cung Diên Thọ (dành cho các Hoàng Thái hậu).

- Khu vực dành cho các hoàng tử học tập, giải trí như vườn Cơ Hạ, điện Khâm văn... (phía sau, bên trái).

- Ngoài ra còn có kho tàng (Phủ Nội Vụ) và các xưởng chế tạo đồ dùng cho hoàng gia (phía trước vườn Cơ Hạ)

Khu vực Tử Cấm Thành nằm trên cùng một trục Bắc-Nam với Hoàng Thành và Kinh Thành, gồm một vòng tường thành bao quanh khu vực các cung điện như điện Cần Chánh (nơi vua tổ chức lễ Thường triều), điện Càn Thành (chỗ ở của vua), cung Khôn Thái (chỗ ở của Hoàng Quý phi), lầu Kiến Trung (từng là nơi ở của vua Bảo Đại và Hoàng hậu Nam Phương), nhà đọc sách và các công trình khác phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt của nhà vua và gia đình như Thượng Thiện Đường (nơi phục vụ ăn uống), Duyệt Thị Đường(nhà hát hoàng cung) ...

Mặc dù có rất nhiều công trình lớn nhỏ được xây dựng trong khu vực Hoàng Thành nhưng tất cả đều được đặt giữa thiên nhiên với các hồ lớn nhỏ, vườn hoa, cầu đá, các hòn đảo và các loại cây lưu niên tỏa bóng mát quanh năm. Mặc dù quy mô của mỗi công trình có khác nhau, nhưng về tổng thể, các cung điện ở đây đều làm theo kiểu “trùng lương trùng thiềm” (hay còn gọi là “trùng thiềm điệp ốc” - kiểu nhà kép hai mái trên một nền), đặt trên nền đá cao, vỉa ốp đá Thanh, nền lát gạch Bát Tràng có tráng men xanh hoặc vàng, mái cũng được lợp bằng một loại ngói đặc biệt hình ống có tráng men thường gọi là ngói Thanh lưu ly (nếu có màu xanh) hoặc Hoàng lưu ly (nếu có màu vàng). Các cột được sơn thếp theo mô típ long-vân (rồng-mây).

Nội thất cung điện thường được trang trí theo cùng một phong cách nhất thi nhất họa (một bài thơ kèm một bức tranh) với rất nhiều thơ bằng chữ Hán và các mảng chạm khắc trên gỗ theo đề tài bát bửu, hay theo đề tài tứ thời.

Điều đáng nói ở đây là sự phân biệt nam nữ, lớn nhỏ, trên dưới theo địa vị, thứ bậc rõ ràng, áp dụng cho mọi đối tượng cho dù đó là thành viên trong hoàng tộc, là mẹ vua hay hoàng tử, công chúa. Nam có lối đi riêng, nữ có lối đi riêng, quan văn một bên, quan võ một bên.

Tất cả nhất nhất đều chiếu theo quy định mà thực hiện, thể hiện rõ nét ý thức tập trung quân chủ, mọi quyền lực về tay nhà vua, đặc biệt là dưới triều vua Minh Mạng.

Đến nay, trải qua bao biến động và thời gian, hàng trăm công trình kiến trúc ở Đại Nội chỉ còn lại ít ỏi chiếm không đầy một nửa con số ban đầu.

Nhưng với tư cách là tài sản vô giá của dân tộc, là thành quả lao động của hàng vạn người trong suốt một thời gian dài, khu di tích Đại Nội đang dần được trả lại dáng xưa cùng các di tích khác nằm trong quần thể kiến trúc đã được cả nhân loại công nhận là Di sản Thế giới.

Được sự đầu tư của nhà nước và sự giúp đỡ của bè bạn gần xa trong cộng đồng quốc tế thông qua các cuộc vận động nhằm cứu vãn, bảo tồn và phát huy những giá trị vật chất và tinh thần của di sản văn hóa Huế, nhiều di tích ở hoàng cung Huế đã từng bước được phục hồi, trở lại nguyên trạng cùng nhiều công trình khác đang được bảo quản, sửa chữa, góp phần gìn giữ khu di tích lịch sử thuộc triều đại phong kiến cuối cùng ở Việt Nam.







Để mua ve may bay di hue, xin vui lòng liên hệ với chúng tôi.

0 nhận xét
Nhãn: , , , , ,

Cùng mua vé máy bay đi du lịch Huế ở Điện Thái Hòa


Du lịch Huế - Điện Thái Hòa. Du lịch Việt Nam, du lich Hue. Thong tin du lich Hue.

Điện Thái hoà là cung điện nằm trong khu vực Đại Nội của kinh thành Huế, là nơi đăng quang của 13 vua triều Nguyễn từ Gia Long đến Bảo Đại. Trong chế độ phong kiến cung điện này được coi là trung tâm của đất nước.

Quá trình xây dựng và trùng tu điện Thái Hòa được chia làm 3 thời kỳ chính; mỗi thời kỳ đều có những thay đổi lớn, cải tiến về kiến trúc và trang trí. Vua Gia Long khởi công xây dựng vào ngày 21 tháng 2 năm 1805 và hoàn thành vào tháng 10 cùng năm.

Năm 1833 khi vua Minh Mạng quy hoạch lại hệ thống kiến trúc cung đình ở Đại Nội, trong đó có việc cho dời điện về mé nam và làm lại đồ sộ và lộng lẫy hơn. Năm 1923 dưới thời vua Khải Định để chuẩn bị cho lễ Tứ tuần Đại khánh tiết của nhà vua (mừng vua tròn 40 tuổi) diễn ra vào năm 1924, điện Thái Hoà đã được "đại gia trùng kiến".

Qua các đợt trùng tu lớn nói trên và nhiều lần trùng tu sửa chửa nhỏ khác dưới thời vua Thành Thái, Bảo Đại và trong thời gian gần đây (vào năm 1960, 1970, 1981, 1985 và 1992) điện Thái Hòa đã ít nhiều có thay đổi, vẻ cổ kính ngày xưa đã giảm đi một phần. Tuy nhiên, cốt cách cơ bản của nó thì vẫn còn được bảo lưu, nhất là phần kết cấu kiến trúc và trang trí mỹ thuật.

Điện Thái Hòa là biểu trưng quyền lực của Hoàng triều Nguyễn. Điện, cùng với sân chầu, là địa điểm được dùng cho các buổi triều nghi quan trọng của triều đình như: lễ Đăng Quang, sinh nhật vua, những buổi đón tiếp sứ thần chính thức và các buổi đại triều được tổ chức 2 lần vào ngày mồng 1 và 15 âm lịch hàng tháng. Vào những dịp này, nhà vua ngồi uy nghiêm trên ngai vàng. Chỉ các quan Tứ trụ và những hoàng thân quốc thích của nhà vua mới được phép vào điện diện kiến. Các quan khác có mặt đông đủ và đứng xếp hàng ở sân Đại triều theo cấp bậc và thứ hạng từ nhất phẩm đến cửu phẩm, quan văn đứng bên trái, quan võ đứng bên phải. Tất cả các vị trí đều được đánh dấu trên hai dãy đá đặt trước sân chầu.



Để mua ve may bay di hue, xin vui lòng liên hệ với chúng tôi.

0 nhận xét
 
Vé máy bay, Mua vé máy bay giá rẻ © 2012 | Designed by Canvas Art, in collaboration with Business Listings , Radio stations and Corporate Office Headquarters