Hội chợ triển lãm làng nghề tại Festival nghề truyền thống Huế 2013


 Hội chợ với quy mô 150 - 200 gian hàng. Trong đó, có khoảng 50 gian hàng giới thiệu nghề thủ công truyền thống, làng nghề, ngành nghề nông thôn của tỉnh TT-Huế.
 Chiếc nón lá đã trở thành biểu trưng cho vẻ đẹp của phụ nữ Huế
 Chiếc nón lá đã trở thành biểu trưng cho vẻ đẹp của phụ nữ Huế (Ảnh: Báo điện tử Đảng CSVN)
  Đây là hội chợ nhằm tôn vinh các nghệ nhân, các thợ thủ công và hàng thủ công mỹ nghệ Việt Nam; tạo điều kiện cho cơ sở sản xuất kinh doanh tại các làng nghề giới thiệu, giao lưu, học hỏi kinh nghiệm đẩy mạnh sản xuất, mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm. Đồng thời, góp phần quảng bá, giới thiệu hình ảnh làng nghề truyền thống gắn với đất nước con người Việt Nam với du khách trong và ngoài nước.
Theo Bảo Anh

0 nhận xét

Ý tưởng trang trí siêu 'độc' cho ly rượu


Những chiếc ly được sơn, vẽ, dùng làm giá nến là ý tưởng bất ngờ mà hiệu quả vô cùng.

1. Sơn lại đáy ly
Nhúng ly rượu của bạn vào sơn màu và bạn có thể dùng phấn hoặc màu vẽ ghi tên từng người lên ly rượu. Thật là một cách ấn tượng và tiện dụng để phân biệt các ly rượu với nhau trên bàn tiệc. 
Ý tưởng trang trí siêu 'độc' cho ly rượu
2. Làm ly rượu lấp lánh đón giao thừa
Ý tưởng trang trí siêu 'độc' cho ly rượu
Bước 1. Trộn đều keo dán với nhũ.
Ý tưởng trang trí siêu 'độc' cho ly rượu
Bước 3. Quết lớp keo - nhũ này lên phần đáy chiếc ly của bạn. Giảm dần lượng nhũ khi quết lên phía gần thân cốc. Bạn đã có một chiếc cốc tuyệt đẹp, hợp với mọi bữa tiệc.
Ý tưởng trang trí siêu 'độc' cho ly rượu
Cũng với cách tương tự, nhưng biến tấu một chút với việc dán thêm chữ, băng dính để tránh quết nhũ vào những phần không muốn sơn, bạn sẽ có thêm nhiều loại ly đa dạng.
Ý tưởng trang trí siêu 'độc' cho ly rượu
Ý tưởng trang trí siêu 'độc' cho ly rượu
Ý tưởng trang trí siêu 'độc' cho ly rượu
3. Trồng cây trong ly
Ý tưởng trang trí siêu 'độc' cho ly rượu
Ý tưởng trang trí siêu 'độc' cho ly rượu
Ý tưởng trang trí siêu 'độc' cho ly rượu
Những chiếc ly "nở hoa" này có thể dùng để trang trí bàn tiệc hoặc làm quà tặng đều miễn chê. 
4. Giá cắm nến
Lật úp chiếc ly lại. Cho vào dưới ly vài bông hoa, đồ trang trí và cắm nến bên trên, bạn đã có một chiếc giá nến độc, đẹp. 
Ý tưởng trang trí siêu 'độc' cho ly rượu
5. Đèn lung linh
Cắm nên bên trong ly và úp những chiếc cốc giấy lên trên và bạn đã có những chiếc đèn lung linh bày bàn tiệc. 
Ý tưởng trang trí siêu 'độc' cho ly rượu
6. Vải phủ đế ly điệu đà
Dùng vải felt, vải dạ cắt thành những bông hoa tỉ mỉ như thế này để "cá tính hóa" bộ ly nhà bạn!
Ý tưởng trang trí siêu 'độc' cho ly rượu
7. Ly rượu từ chén uống trà
Bạn đã chán bộ ly rượu và chén uống trà cũ nhà mình? Cách tốt nhất là tận dụng chân của ly rượu ghép với chén uống trà để tạo nên bộ ly có họa tiết độc nhất vô nhị!
Ý tưởng trang trí siêu 'độc' cho ly rượu
Tom Kat (Xzone/TTTĐ

0 nhận xét
Nhãn: , , , , , ,

Kỳ 11: Cùng đi du lịch Huế, thưởng thức những họa tiết khắc trên Cửu Đỉnh Huế - Cao Đỉnh


Lòn bon, Luân xa pháo,Nguyệt, Nhu

NAM TRÂN

8. Nam Trân, tục danh cây lòn bon(28) có nơi gọi là lòn bong, cao độ vài mét, mùa xuân nở hoa, mùa thu quả chín; vỏ mỏng, cùi thịt trắng, vị thơm ngọt; vùng núi Quảng Nam rất nhiều. Về trái cây này, có một chuyện ở vùng Quảng Nam kể rằng: khi Nguyễn Vương còn đang ẩn náu ở nguồn sông Ô Gia, vì thiếu lương thực nên nhiều ngày chỉ ăn cầm bữa bằng quả lòn bon. Vì vậy mà sau này, khi Nguyễn Vương lên ngôi vua Gia Long, người ta đã đặt tên cho cây trái này là phụng quân mộc (cây gặp vua). Chắc chắn cũng vì cái tích ấy nên khi đúc Cửu đỉnh, vua Minh Mạng cho khắc hình tượng cây lòn bon vào Nhân đỉnh. (28). Đại Nam nhất thống chí, Sài Gòn xb (1962); Hà Nội xb (1969), đều không chú cây nam trân khắc ở đỉnh nào.

LUÂN XA PHÁO

9. Luân Xa Pháo, tức là loại pháo khá lớn đặt trên bệ đỡ có hai bánh xe, được chế tạo dưới triều vua Gia Long, Minh Mạng. Loại súng này thường được kéo theo các đơn vị quân đội bộ binh, cơ động nhanh. Trong chiến đấu, luân xa pháo được binh lính đẩy dàn lên trước hàng quân, khai hỏa một loạt để uy hiếp tinh thần đối phương, rồi bộ binh mới tiến lên, tấn công quân địch.Luân xa pháo được sử dụng từ lâu, nhưng thực sự là thứ vũ khí mạnh và tiện lợi dưới thời Nguyễn sơ.Năm Minh Mạng thứ 17, 1836, đúc xong Cửu đỉnh, cho khắc hình tượng loại pháo này lên Nhân đỉnh.

NGUYỆT

10. Nguyệt, tức là mặt trăng, chỉ thời gian một tháng. Ngày trước, nhiều nước lấy chu kỳ của “trăng già, trăng non” để làm lịch, gọi là lịch trăng, lịch âm, hiện vẫn còn dùng. Ngày trăng tối nhất gọi là sóc (ba mươi), ngày trăng sáng nhất gọi là vọng (mười lăm). Người xưa giàu tưởng tượng, nhìn lên bóng trăng thấy những quầng đen, xám, họ đã sáng tạo ra những câu chuyện “chị Hằng Nga” giàu màu sắc huyền diệu. Ban đêm, nhìn lên mặt trăng, nhà thiên văn có thể đoán biết thời tiết, sâu bệnh ôn dịch của năm ấy. “Trăng quầng thì hạn, trăng tán thì mưa”...Năm Minh Mạng thứ 17, 1836, đúc xong Cửu đỉnh, cho khắc hình tượng mặt trăng lên Nhân đỉnh.

NHU

11. Nhu, tục danh lúa nếp. Một thứ lúa cho gạo nấu chín rất thơm và dẻo nên gọi là nọa, cũng quen gọi là cơm nếp, là xôi. Lúa nếp cho sản lượng thấp, nên ngày trước người ta trồng ít, chỉ để dâng cúng tổ tiên, thần thánh. Mỗi khi có việc làng, việc họ, hay có đám giỗ thì mới được ăn xôi. Ngoài loại nhu (nếp) này, còn có các loại nếp khác: nếp voi, nếp cau, nếp bò, nếp chốt, nếp hường bầu, nếp lũ, nếp đen, nếp kỳ lân, nếp tây, nếp sáp, nếp than, nếp một, nếp trứng, nếp già, nếp cút, nếp cái, nếp chuột… Loại lúa nếp này đại diện cho hơn 40 loại nếp khác cùng thời, là hạt ngọc trời ban cho thế gian.Năm Minh Mạng thứ 17, đúc xong Cửu đỉnh, cho khắc hình tượng loại lúa nếp này vào Nhân đỉnh.


Để mua ve may bay di huexin vui lòng liên hệ với chúng tôi.

0 nhận xét
Nhãn: , , , , , , , , ,

Kỳ 10: Cùng đi du lịch Huế, thưởng thức những họa tiết khắc trên Cửu Đỉnh Huế - Cao Đỉnh


Nhân đỉnh với các hình khắc Liên Hoa (hoa sen), Hương Giang, Báo
LIÊN HOA
5. Liên Hoa, tục danh hoa sen (27), còn có các tên hà hoa, thủy chi hoa, tịnh khánh hoa, lục nguyệt xuân, phù cừ. Loài hoa thường mọc ở những vùng nước ngập nhiều bùn lầy, nơi bùn lầy càng tanh hôi cây sen càng phát triển. Mặc dù sống ở chốn bùn đất như vậy, nhưng hoa của nó có sắc và hương rất riêng, hột của nó có mùi thơm dịu, hoa và hột cùng kết thành một lượt. Từ cổ xưa, hoa sen đã được các nền văn hóa của nhiều quốc gia chọn làm biểu trưng cho sự tinh khiết, cao quí, thể hiện khí tiết của bậc quân tử. Đặc biệt trong văn hóa Phật giáo, hoa sen có ý nghĩa tượng trưng rất sâu rộng. Phật Đà vốn được gọi là Nhân liên hoa (hoa sen trong loài người), không bị nhiễm bởi phiền não lo buồn thế gian, tuy sống ở thế gian nhưng không dính bụi trần dơ bẩn.
Hàm nghĩa của hoa sen phong phú, nên trong kinh điển Phật giáo thường dùng hoa sen làm vật phẩm cúng dường dâng lên Phật, Bồ Tát. Kinh A Di Đà chép rằng dân chúng ở thế giới cực lạc đều hóa sinh từ hoa sen, do vậy thế giới cực lạc được gọi là nước hoa sen. Trong kinh điển thường dùng hoa sen để ví với 32 tướng tốt của Đức Phật, ví dụ cho sự thù thắng của Pháp môn, trong đó nổi tiếng nhất chính là kinh Diệu Pháp Liên Hoa…
Hột sen được gọi là liên tử, bỏ vào nước ngọt thì chìm, bỏ vào nước mặn thì nổi, vì thế người nấu muối thường dùng hột sen để thử độ mặn. Củ sen gọi là liên ngẫu. Người ta đào củ sen luộc ăn. Còn hột sen nấu chín ăn hoặc để vậy ăn sống cũng được, lại có thể thay thế làm lương thực. Tim sen gọi là liên tâm dùng chữa chứng mất ngủ, tim đập nhanh. Người xưa nói, nhà tiên nhân trữ hột thạch liên và củ sen khô trải đến ngàn năm đem dùng làm thức ăn vẫn rất tuyệt diệu. Hoa sen, hột sen, và gồm cả cây sen đều có thể chế biến làm nhiều món ngon, nhất là món chay. Hột sen có nhiều dược tính được các nhà Đông y dùng làm thuốc bồi bổ, tăng sức, giảm nóng, trừ thấp, mụn nhọt, bổ tỳ, dưỡng tâm, trị chứng mất ngủ, di mộng tinh, cao huyết áp, băng huyết, thổ huyết, chảy máu cam, say nắng... Thực là một loài hoa ích lợi cả hình và tướng.
Năm Minh Mạng thứ 17, đúc xong Cửu đỉnh, cho khắc hình tượng hoa sen lên Nhân đỉnh.
Ở cố đô Huế, có giống sen trồng ở hồ Tịnh Tâm trong Thành Nội, ngon và thơm nổi tiếng, nhưng sản lượng ít, xưa kia chỉ được dùng cho hoàng cung. Ngày nay hột sen hồ Tịnh Tâm vẫn là thứ sen quí hiếm nhất nước.
(27). Một số sách chép là liên tử (hạt sen). Chúng tôi chép đúng chữ khắc trên Nhân đỉnh là liên hoa.
BÁO
6. Báo, tục danh con beo, động vật hoang dã, mới nhìn qua tương tự con “cọp nhỏ” có vằn như đồng tiền vàng. Lại có loại báo lửa, báo hoa mai, báo gấm; thuộc họ mèo, bộ ăn thịt, loại báo có thói quen sống ở vùng rừng thưa, hay thảo nguyên, chúng thường leo lên ở trên chạc ba của những cây to, nằm im quan sát chung quanh để rình mồi. Nó leo trèo giỏi hơn hổ, là loài vật có sức dũng mãnh. Nó cũng được tôn xưng là “chúa sơn lâm”. Thịt và xương đều có dược tính, được Đông y dùng để bồi bổ sức khỏe và trị được các bệnh xương cốt, da lông dùng trong mỹ nghệ trang sức có giá trị cao. Xưa rừng nước ta nhiều tỉnh đều có, nay do biến động nên cá thể còn lại rất ít.
Năm Minh Mạng thứ 17, đúc xong Cửu đỉnh, cho chạm hình tượng con báo lên Nhân đỉnh.
HƯƠNG GIANG
7. Hương Giang, tức sông Hương, sông ở Thừa Thiên Huế; có hai nguồn lớn, đều phát nguyên từ rừng rậm chân dãy Trường Sơn. Nguồn Tả Trạch xuất phát từ mạch Động Dài và khe Sơn Ba chảy về phía tây bắc, khuất khúc qua 55 ngọn thác lớn nhỏ rồi mới đổ về ngã ba Bằng Lãng. Nguồn Hữu Trạch từ phía đông núi Chấn Sơn, chảy qua một chặng đồi núi, vượt 14 ngọn thác rồi mới nhập vào ngã ba Bằng Lãng tạo thành một dòng chính. Tại đây, lòng sông trở nên rộng rãi, nước chảy hiền hòa. Theo cách tính ngày trước thì từ đây trở xuống mới gọi là sông Hương, chảy về đông nam, chảy vòng quanh lăng Cơ Thánh (tức lăng Hưng Tổ Hiếu Khang Hoàng đế) đến phía đông núi Ngọc Trản, rồi lại chảy ngoặt sang phía bắc, qua ngã ba Long Hồ, lại chảy liền xuống ngã ba cầu Lợi Tế, chảy qua trước mặt Kinh thành Huế, qua ngã ba cầu Gia Hội, xuống ngã ba sông Bao Vinh. Từ đây, sông Hương chuyển hướng đông bắc để hội lưu với sông Bồ tại ngã ba Sình và cứ thế dòng sông mở rộng thêm, rồi êm đềm chảy đến bến Thai Dương, qua phía nam thành Trấn Hải, đổ ra cửa Thuận An, dài khoảng 28 cây số. Trên dòng chính có các nhánh sông nhỏ về phía nam với ba ngả: sông Lợi Nông, sông Thiên Lộc (Thọ Lộc) dân gian quen gọi là Như Ý và sông Phổ Lợi. Đoạn sông chảy ngang trước mặt Kinh thành Huế vừa là minh đường vừa như một dải lụa mềm ôm lấy khuôn mặt dịu hiền và kiêu sa của chốn Kinh kỳ.
Năm Minh Mạng thứ 17, đúc xong Cửu đỉnh, cho khắc hình tượng sông Hương vào Nhân đỉnh; đời Thiệu Trị, ngự chế thơ “Thần Kinh nhị thập cảnh”, trong đó có bài “Hương Giang hiểu phiếm”, (Buổi sớm bơi thuyền trên sông Hương) khắc vào bia đá, dựng nhà bia ở bờ sông cạnh Nghinh Lương Đình; năm Tự Đức thứ 3, 1850, đăng liệt vào hàng sông lớn trong điển thờ. Trải qua năm tháng, thời thế thay đổi, sông Hương còn có các tên: sông Lô Dung, sông Dinh, sông Linh Giang, sông Kim Trà, sông Phú Xuân, Tiêu Kim Thủy, sông Trường Tiền, sông Huế… Với những tao nhân mặc khách, văn nhân thi sĩ thì sông Hương còn được gọi: con sông tình yêu, sông tím nhân loại, dòng sông thi ca, dòng sông mở nước, sông thạch xương bồ... Người xưa nói: nước sông Hương đang trong trở đục là báo điềm xấu, còn đang đục trở trong dự báo điềm lành. Không biết thực hư thế nào?
Sông Hương là báu vật vô giá của thiên nhiên ban tặng cho mảnh đất xứ Huế và Tổ quốc Việt Nam. Con sông dùng dằng thướt tha này đã tạo nên sự cảm xúc vô tận của biết bao văn nhân nghệ sĩ trải qua nhiều thế kỷ nay.

Để mua ve may bay di huexin vui lòng liên hệ với chúng tôi.

0 nhận xét
Nhãn: , , , , , , ,

Kỳ 9: Cùng đi du lịch Huế, thưởng thức những họa tiết khắc trên Cửu Đỉnh Huế - Cao Đỉnh


Nhân đỉnh với các hình khắc núi Ngự bình, Khổng tước (chim công) , Đại mại (đồi mồi) Nhân đỉnh - Đỉnh đặt hàng thứ nhất bên trái tượng trưng cho lòng nhân ái
2. Nhân đỉnh - Đỉnh đặt hàng thứ nhất bên trái tượng trưng cho lòng nhân ái

KHỔNG TƯỚC

2. Khổng Tước, tục danh con công, cũng còn gọi là con cuông, là Việt điểu, thuộc họ trĩ, bộ gà; người xưa bảo tiếng gáy của nó thốt ra nghe như tiếng “đô hô”, phần nhiều khổng tước thường sống ở cây to trên núi cao, gò cao để có thể bay dễ dàng. Trước đây, rừng núi các tỉnh nước ta đều có, nhưng nổi tiếng và người ta dễ gặp nhiều là ở vùng Gò Công, tỉnh Tiền Giang, Nam Bộ; vùng đền Cuông, tỉnh Nghệ An; vùng Tu Bông, Vạn Giã, tỉnh Khánh Hòa; các tỉnh Ninh Thuận, Bình Thuận, Gia Lai, Lâm Đồng đều có. Nó là loại chim không chịu ở chốn rừng rậm, làm tổ đơn giản, đẻ vào khoảng tháng 5 tháng 6, mỗi lứa chừng 4 đến 6 trứng có màu trắng đục, kích thước trứng trung bình. Ấp độ 28 ngày thì nở. Ban đêm nó thường ngủ trên cành cây cao gần chỗ kiếm ăn. Ngoài mùa sinh sản công thường sống theo đàn hay từng gia đình. Cả con trống và mái đều không có cựa. Theo các nhà Đông y, thịt chim công có nhiều dược tính công dụng rất cao trong việc giải độc; ngược lại lông của nó có nhiều độc tố không được để đụng chạm vào mắt vì có thể làm mù; mật của chim công rất độc, khi làm thịt người ta phải bỏ mật đi; thịt công chần qua rồi làm nem, là món rất quí trong hàng bát trân, ngày xưa chỉ vua quan mới được dùng món “nem công chả phượng”. Sách An Nam chí chép rằng: Chim công trống sau khi nở được một năm, đuôi dài chừng vài thước, gặp gió thì xòe đuôi để múa, trông óng ánh như bánh xe gấm. Lại có một loại công trắng, lông trắng tinh, toàn thân như tuyết, vào đời vua Minh Mạng, quan quân tỉnh Biên Hòa bắt được một con đem dâng lên.

Năm Minh Mạng thứ 17, đúc xong Cửu đỉnh, cho chạm hình tượng chim công vào Nhân đỉnh.

Do môi trường sống tại các cánh rừng núi nước ta hiện nay bị xâm phạm quá mức; một phần lại bị đơm bẫy nên các cá thể quí hiếm trong đó có loài chim công còn rất ít, hơi khó gặp. Muốn tận mắt xem nó múa thì có thể đến các vườn thú ở Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh may ra sẽ còn gặp. Còn muốn nghiên cứu đặc tính, tìm hiểu kỹ loài công này thì có thể đến các khu bảo tồn của rừng Cúc Phương, tỉnh Ninh Bình hay vườn quốc gia Cát Tiên, tỉnh Lâm Đồng, sẽ thấy.

Công là loại chim tuyệt đẹp, được người xưa quan niệm, loài chim mang ý nghĩa may mắn, cát tường “Khổng tước thái bình”, xứng đáng ở ngôi “hoa hậu của rừng xanh” rất cần được bảo tồn nòi giống.

ĐẠI MẠI

3. Đại Mại, tục danh con đồi mồi, thuộc họ vích, bộ rùa, chúng sống chủ yếu ở biển sâu và cạnh các hải đảo, nhất là những nơi có nhiều san hô; khi lên cạn nó có khả năng nhịn đói dài ngày nhưng phải được giữ ấm bằng nước biển.Đồi mồi có nhiều giá trị kinh tế, thịt rất ngon, có nhiều chất dinh dưỡng, là vị thuốc dùng chữa bệnh nhiệt, mê sảng, kinh giản, ung nhọt; vảy và mai làm hàng mỹ nghệ xuất khẩu. Vùng biển nước ta từ tỉnh Quảng Ninh, Hải Phòng trở vào Đà Nẵng, Bình Định, Khánh Hòa, Bà Rịa - Vũng Tàu, vùng quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, Phú Quốc, chúng sống rất nhiều.Năm Minh Mạng thứ 17, đúc xong Cửu đỉnh, cho khắc hình tượng con đồi mồi lên Nhân đỉnh.

NGỰ BÌNH SƠN

4. Ngự Bình Sơn, tức núi Ngự Bình, lại gọi Hòn Mô ở về phía tây bắc huyện Hương Thủy - nay thuộc phường An Cựu, thành phố Huế. Núi này nổi vọt lên ở quãng đất bằng như bức bình phong, cao chừng 104 mét, được xem là tặng vật trời ban để làm lớp án thứ nhất trấn giữ trước Kinh thành Huế. Tên xưa của núi là Mạc Sơn, hoặc là Bằng Sơn, vì trông nó tựa như một con chim bằng đang đậu, mặt quay về phía bắc với đôi cánh hơi khuỳnh ra hai bên trông thật khỏe. Đời Gia Long xây dựng kinh thành, vua lên núi chơi, thấy đỉnh núi bằng phẳng, hình dáng uy nghi, cân đối, đẹp như một ngọn núi nhân tạo, khắp nơi trồng cây thông, cho tên núi là Ngự Bình. Năm Minh Mạng thứ 2, 1821, nhà vua ngự giá lên chơi, xem xét hình thế, thấy hai bên tả hữu núi đất đứng đối nhau, nhân đấy gọi tên núi phía tả là Tả Phù, núi phía hữu là Hữu Bật. Năm Minh Mạng thứ 17, đúc xong Cửu đỉnh, cho chạm hình tượng núi này vào Nhân đỉnh; năm Mậu Tuất, 1838, nhân tiết Trùng Dương (nhằm ngày 9 tháng 9 âm lịch), nhà vua lại ngự lên núi, cho bá quan theo hầu ăn yến ở trên núi, nhân đấy, ngự soạn bài thơ ghi lại việc này. Tiết Trùng cửu, các vua Nguyễn lên chơi núi bắt đầu từ đấy. Năm Thiệu Trị thứ 4, ngự chế tập thơ “Thần Kinh nhị thập cảnh”, tức Hai mươi bài thơ tả cảnh đẹp ở Kinh sư, trong ấy có bài vịnh núi này, đầu đề là “Bình Lãnh Đăng Cao”. Bài thơ ấy được khắc vào một tấm bia bằng đá thanh khá đẹp, đặt trong một nhà bia xây gạch kiểu vòm cuốn, tọa lạc ngay dưới chân núi. Bây giờ, nhà bia đã hư hỏng, nhưng tấm bia vẫn còn y nguyên.

Theo gương người xưa, ngày nay hễ đến dịp Nguyên tiêu, hay tiết Trùng cửu, người Huế thường rủ nhau lên núi ngắm trăng, làm thơ...

Cạnh núi Ngự Bình nhìn về phía tây nam bên trái có ngọn núi Bân, thường gọi núi Tam Tầng, là chỗ ngày xưa Nguyễn Huệ sai đắp đàn để tế cáo trời đất lên ngôi Hoàng đế, lấy hiệu Quang Trung, rồi xuất đại binh ra Bắc đánh tan 29 vạn quân nhà Thanh xâm lược giải phóng đất nước. Nơi ấy bây giờ người ta xây dựng một công viên văn hóa, có tượng đài vua Quang Trung oai hùng lẫm liệt nhìn ra phương Bắc...Núi Ngự Bình là biểu tượng tự nhiên của vùng đất văn hóa lịch sử vốn được các chúa Nguyễn chọn đóng thủ phủ, đến vua nhà Nguyễn chọn làm kinh đô. Ngự Bình được ví như người tình muôn thuở của nàng sông Hương thơ mộng, mải mê đứng ngắm tình nhân suốt đời. Vì vậy, từ xa xưa nhiều người vẫn thường gọi xứ Huế là miền của “núi Ngự sông Hương”.

Để mua ve may bay di huexin vui lòng liên hệ với chúng tôi.

0 nhận xét
Nhãn: , , , , , ,

Kỳ 8: Cùng đi du lịch Huế, thưởng thức những họa tiết khắc trên Cửu Đỉnh Huế - Cao Đỉnh


Cao đỉnh với các hình khắc Biển Đông, Long (Rồng), Thiết Mộc (Lim)


ĐÔNG HẢI

16. Đông Hải, chỉ vùng biển nằm phía Đông thuộc chủ quyền của Việt Nam (26), thông với Thái Bình Dương ở phía bắc qua eo Basni. Trong biển Đông có quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Ở vùng biển này từ cuối tháng 4 đến đầu tháng 11 hàng năm, thường có gió bão mạnh, nhất là ở khu vực quần đảo Trường Sa, nên còn gọi là quần đảo Bão Tố. Biển Đông đúng là kho tài nguyên vô tận của nước ta. Từ xa xưa, từ thuở Hồng Bàng khai quốc, người Việt đã biết tiến ra làm chủ biển Đông.
Năm Minh Mạng thứ 17, 1836, đúc xong Cửu đỉnh, nhà vua cho khắc hình tượng biển Đông lên Cao đỉnh.
(26). Chỉ vùng biển phía Đông thuộc hải phận của nước ta, không bao gồm cả vùng biển Đông rộng lớn như ngày nay.

LONG

17. Long, thường gọi là rồng, một linh vật được huyền thoại hóa mang đầy tính siêu nhiên, đứng đầu trong tứ linh: “long, lân, qui, phụng”, xuất hiện hàng ngàn năm trước, được nâng lên thành vật biểu tượng trong văn hóa phương Đông; nó được xem là chúa tể cai quản vùng sông nước (thường được gọi là Long vương). Theo các nhà nghiên cứu ngôn ngữ, chữ rồng trong tiếng Việt và chữ long trong từ Hán Việt đều bắt nguồn từ krong, krông, klong trong tiếng Đông Nam Á cổ có nghĩa là sông nước. Nó được xem là con vật kết hợp giữa cá sấu và rắn, sinh ra dưới nước rồi bay vút lên trời mà không cần có cánh, miệng vừa phun nước, vừa phun lửa. Một số nhà khảo cổ học khẳng định rằng: “Rồng là con vật đặc thù chung cho tất cả các dân tộc Việt và chính từ đây nó đã đi vào văn hóa Trung Hoa”. Cụ thể hơn, đối với người Việt Nam, truyền thuyết Con Rồng - Cháu Tiên đã có từ thời họ Hồng Bàng lập quốc. Theo tư duy của người Việt cổ thì Rồng - Tiên là một cặp đôi âm dương mà thành, để giải thích cội nguồn tổ tiên của người Việt, trong đó tiên biểu trưng cho giống chim, ở núi non; còn rồng là con vật từ cá sấu và rắn biến thành, ở sông biển. Biểu tượng rồng đã ăn sâu vào đời sống văn hóa Việt. Con rồng nhanh chóng trở thành biểu tượng của quyền lực, gắn với hình ảnh tối thượng của ông vua. Trong tiến trình lịch sử, con rồng của mỗi thời cũng đã thay đổi ít nhiều về đường nét hình dáng. Có thể nói, rồng là một biểu tượng của sự linh thiêng, cương trực, mạnh mẽ, sự vươn lên của một dân tộc. Theo truyền thuyết, cá chép hóa rồng là bởi do kiên trì tu luyện mà thành. Ở vào thời nhà Đinh, bất kể con vật gì, nếu “chịu” tu luyện thành chính quả cũng có thể hóa rồng được.
Năm 1010, vua Lý Công Uẩn đã chọn đất Thăng Long (rồng bay) để định đô nước Đại Việt. Có thể vua Lý đã thấy “dấu vết” rồng tàng cư ở đây sẽ thịnh phát. Cùng với những quan niệm ấy, mà ở nước Nam ta, nhiều vùng đất được lấy chữ long để đặt tên, như: Hoàng Long, Thăng Long, Hạ Long, Bái Tử Long, Long Hưng, Cửu Long, Hàm Rồng, Hàm Long, Vĩnh Long, Kim Long... Người cũng có mạng rồng, con vật được chọn đứng hàng thứ năm trong địa chi của 12 con giáp.
Năm Minh Mạng thứ 17, đúc xong Cửu đỉnh, nhà vua cho chạm hình tượng con rồng vào Cao đỉnh.
Theo Sách đỏ Việt Nam, hiện nay ở nước ta có loài rồng đất sinh sống, còn có tên rồng tạng, tò te, thuộc họ nhông, bộ có vảy; thường sống ở hang hốc, trong các bụi cây... Rồng đất có giá trị thẩm mỹ cao, nuôi trong các vườn thú; một số nơi còn dùng nó làm nguồn thực phẩm hoặc dược phẩm rất quí.

THIẾT MỘC

18. Thiết Mộc, tục danh cây gỗ lim, thứ gỗ đứng ở nhóm đầu trong các loại gỗ rừng (đinh, lim, sến, táu), sắc gỗ lim đen tím, bền rắn như sắt đá, người ta thường dùng để làm đình, chùa, đền, xây cung điện, dựng nhà, đóng thuyền, bắc cầu… Thật là thượng phẩm trong loài mộc. Ở trong rừng sâu các tỉnh đều có. Đầu triều Minh Mạng định lệ cấm dân gian mua bán gỗ lim. Sau “nới lỏng” định lệ thì thổ sản tỉnh nào có gỗ lim phải đóng thuế rất cao. Trong lịch sử chống ngoại xâm phương Bắc, từ Ngô Vương Quyền, sang Lê Đại Hành, đến Trần Hưng Đạo đều đã dùng loại thiết mộc này làm cọc nhọn để đóng xuống lòng sông Bạch Đằng, phá tan thuyền giặc.
Năm Minh Mạng thứ 17, đúc xong Cửu đỉnh, cho khắc hình tượng cây gỗ lim vào Cao đỉnh.

Để mua ve may bay di huexin vui lòng liên hệ với chúng tôi.

0 nhận xét
Nhãn: , , , , , ,

Kỳ 7: Cùng đi du lịch Huế, thưởng thức những họa tiết khắc trên Cửu Đỉnh Huế - Cao Đỉnh


Cao đỉnh- các hình chạm Hổ và Ba La Mật

BA LA MẬT

14. Ba La Mật, tục danh quả mít; còn có tên nẵng gia kiết, quả to như cái đấu, gai mềm, vị ngọt và thơm, hột có thể luộc ăn; khi mít còn xanh người ta vẫn hái để chế biến làm món. Theo Đông y, mít có dược tính hay ích khí, khử phiền. Có hai loại: mít khô (còn gọi mít dai, hoặc ráo) và mít ướt (mít mật); lại có thứ mít nài, mít tố nữ, quả nhỏ hơn, ít múi nhưng mùi vị rất đặc biệt. Cây mít gọi là ba la mộc, chất gỗ có sắc mà bền, có thể dùng làm rường cột, xẻ ván, đóng tủ bàn, chạm tượng thờ, và đóng được nhiều đồ gia dụng khác. Các tỉnh đều có, từ Nghệ An trở vào nam Trung Bộ, miền gần núi trồng được nhiều hơn. Năm Minh Mạng thứ 17, đúc xong Cửu đỉnh, cho chạm hình tượng cây mít có quả vào Cao đỉnh.
HỔ
15. Hổ, tục danh con cọp, còn gọi con hùm, là động vật hoang dã ăn thịt, thuộc họ mèo; dân gian kiêng tránh thường gọi là ông ba mươi, là khái. Một số cổ thư còn chép là ô đồ, là đại trùng, là lý nhĩ. Hổ sống chủ yếu ở các khu rừng già, hoạt động rất rộng, lan ra cả rừng tái sinh, cây bụi, lau lách, trảng cỏ cao. Mỗi ngày đêm nó có thể đi xa hơn 30 cây số; hổ thường sống độc thân. Vùng rừng thấp nước ta, trước đây tỉnh nào cũng có, đôi khi chúng lẻn xuống tận miền đồng bằng rình bắt mồi và bắt cả người. Bộ lông hổ có nền màu vàng nhạt hoặc màu da bò. Toàn thân có nhiều sọc ngang màu đen hoặc nâu đen. Đuôi có vòng nâu đen không đều từ gốc đuôi đến mút đuôi. Thỉnh thoảng cũng có cọp trắng. Qua nghiên cứu, các nhà động vật học thấy được chu kỳ sinh lý của loài thú này: Tiết lập thu thì hổ hay kêu; tháng trọng đông thì hổ mới giao cấu. Hổ sinh con tự nhiên nhưng hơi khó nuôi nên cá thể không sống được nhiều như loài thú khác. Hổ thích ăn thịt chó, ăn rồi thì say, thịt chó được xem như là rượu của hổ vậy. Thịt hổ có thể làm thuốc trị chứng âm tà. Xương cốt hổ đem nấu cao thành cao hổ cốt, dược tính của nó có tác dụng chữa trị khá nhiều bệnh mãn tính, nhất là bệnh xương khớp; còn da được dùng nhiều trong kỹ nghệ. Do hổ có sức mạnh và nhanh nhẹn, dân gian thường quan niệm hổ là vị chúa cai quản núi rừng và gọi là chúa sơn lâm. Hổ có những miếng thế võ cực hiểm, ra đòn là quyết hạ ngay đối phương, tính rất quyết đoán. Thời quân chủ, các vị tướng đứng đầu quan võ cầm quân ra trận, bậc tướng soái được cấp “hổ phù” để điều binh khiển tướng, thể hiện uy quyền, sức mạnh của bậc chủ soái.Hổ dù có sức mạnh, nhưng con người vẫn đủ bản lĩnh để “thuần hóa” được chúng, nhiều con hổ trở thành “diễn viên” làm các tiết mục xiếc. Trong 12 con giáp, hổ (dần) được xếp đứng hàng thứ ba của địa chi. Hổ có tính hay quên, nên không thù dai. Cổ nhân thường bảo: Người cầm tinh hổ, tính hay nóng nảy, ra cửa đụng phải ngọn lá thì mọi chuyện quên ngay. E chỉ là câu nói phỏng mà thôi. Ở tỉnh Thừa Thiên xưa có làng Phù Bài, thuộc huyện Hương Thủy; tỉnh Quảng Trị có làng Thủy Ba thuộc huyện Vĩnh Linh nổi tiếng về “nghề bắt cọp”, nay vẫn lưu truyền.Năm Minh Mạng thứ 17, đúc xong Cửu đỉnh, cho chạm hình tượng hổ vào Cao đỉnh.Nằm về phía tây của Kinh thành Huế, ở phường Thủy Biều vẫn còn dấu tích Hổ Quyền, đây thực chất là một chuồng nuôi hổ, và còn có chức năng của một đấu trường hết sức độc đáo hiếm thấy trên thế giới; đấu trường của những cuộc tử chiến giữa voi và hổ được xây dựng dưới thời vua Minh Mạng.

Kỳ 5: Cùng đi du lịch Huế, thưởng thức những họa tiết khắc trên Cửu Đỉnh Huế - Cao Đỉnh

Để mua ve may bay di huexin vui lòng liên hệ với chúng tôi.

0 nhận xét
Nhãn: , , , , , , ,

Kỳ 6: Cùng đi du lịch Huế, thưởng thức những họa tiết khắc trên Cửu Đỉnh Huế - Cao Đỉnh


Cao đỉnh với hình khắc Lúa tẻ, Đa sách thuyền và Kênh Vĩnh Tế Thoại Ngọc Hầu

CANH

11. Canh, tục danh lúa tẻ. Người xưa nói: lúa xay ra gạo ăn không dẻo gọi là canh, một loại lúa rất thơm, cho gạo hảo hạng, nuôi sống con người đứng đầu các loại lúa tẻ; đại diện cho hơn 47 loại lúa tẻ thời ấy, đều là hạt ngọc nhà trời. (Ở đồng làng An Cựu xưa có trồng giống lúa tẻ hương đạo, tục danh nhe vàng, dân địa phương quen gọi là de, hột hơi dài, sắc gạo rất trắng mà thơm và mềm cơm; tháng 10 cấy, tháng 3 chín, hàng năm có tiến vua. Dân gian có câu: Tôm rằn bóc vỏ bỏ đuôi / Gạo de An Cựu để nuôi mẹ già. Quả là thứ gạo ngon. Đồng ruộng ở miền Bắc có giống tám thơm; miền Nam có nàng hương, đều là những thứ lúa cho gạo hảo hạng).

Năm Minh Mạng thứ 17, đúc xong Cửu đỉnh, cho khắc hình tượng loại lúa tẻ này vào Cao đỉnh.

 ĐA SÁCH THUYỀN

12. Đa Sách Thuyền, chỉ về một loại thuyền khá lớn có nhiều dây buồm (một âm là Đa Tác Thuyền) (có sách chú là thuyền nhiều đáy?), được sản xuất dưới triều vua Gia Long và Minh Mạng. Vì thuyền lớn nên cũng gọi là tàu. Loại thuyền này dùng đi theo sông lớn, đi biển dài ngày và có khả năng đi xa, vượt cả đại dương. Đời vua Minh Mạng có chiếc tàu d’Ajsas mua từ châu Âu về, trông khá giống loại thuyền này. Đa sách thuyền đạt trình độ cao về kỹ thuật đóng thuyền buồm của Việt Nam dưới thời nhà Nguyễn.

Năm Minh Mạng thứ 17, đúc xong Cửu đỉnh, cho chạm hình tượng loại thuyền đa sách này lên Cao đỉnh.
VĨNH TẾ HÀ

13. Vĩnh Tế Hà, tức là sông Vĩnh Tế, người miền Nam quen gọi là kênh (kinh) Vĩnh Tế. Nguyên trước đây, vùng này còn sình lầy, cả bộ lẫn thủy đi lại rất khó khăn, ông Nguyễn Văn Thoại, sinh quán tại Điện Bàn, Quảng Nam - sau vào định cư ở Vĩnh Long, có công phò tá chúa Nguyễn Ánh, được triều đình Huế trọng dụng, phong tước Hầu rất sớm, dân trong vùng quen gọi là Thoại Ngọc Hầu; năm 1818, ông được vua Gia Long bổ làm Trấn thủ Vĩnh Thanh (gồm cả Long Xuyên và Cần Thơ). Tại đây ông cùng quan quân địa phương thiết kế và đốc suất dân binh đào kênh Đông Xuyên rất ích lợi; kênh ấy được nhà vua cho gọi theo tên ông là Thoại Hà; nhân thấy bờ phía đông gần đấy có ngọn Khâu Sơn, bèn cho tên là Thoại Sơn để biểu dương công lao của ông, lại cho dựng miếu thờ sơn thần ở chân núi. Đầu năm 1820, ông lại được lệnh đào con kênh nối từ vùng Châu Đốc đến xứ Hà Tiên. Trong thời gian đào kênh, bà Châu Thị Vĩnh Tế, quê ở Vĩnh Long, vợ của Thoại Ngọc Hầu đã hết lòng lo liệu cùng chồng đốc suất dân binh để đào bằng xong con kênh này. Cảm phục trước công sức khó nhọc của bà, sau khi công trình hoàn thành, vua Minh Mạng đã lấy tên của bà để đặt cho con kênh này là Vĩnh Tế.

Kênh Vĩnh Tế là một công trình thủy lợi, do chính Thoại Ngọc Hầu thiết kế và tự thân đốc suất dân binh làm việc ngày đêm, với số nhân công lên đến 80.000 người. Thời gian đào kéo dài gần 5 năm (1820-1824). Sự thành công này đem lại lợi ích nhiều mặt cho vùng biên giới Tây Nam của Tổ quốc. Đương thời khi kênh đào xong, vua Minh Mạng lấy làm hoan hỉ, khen ngợi công sức của dân binh trong vùng và ông bà Thoại Ngọc Hầu, lại sai dựng bia ở bên bờ sông để ghi sự tích. Kênh Vĩnh Tế lúc mới đào rộng 15 tầm, sâu 6 thước, dài hơn 200 dặm. Kênh này hiện có nhiều đoạn được nới rộng, sâu và dài hơn xưa, chảy từ Châu Đốc, Tri Tôn, tỉnh An Giang xuống huyện Kiên Lương gặp sông Giang Thành chảy tới cửa Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang; đoạn kênh chảy qua Hà Tiên còn được gọi là rạch Hà Tiên. Kênh chảy song song với đường biên giới Việt Nam - Campuchia cách đường biên giới 3 cây số. Có lẽ trong lịch sử mở nước, đây là trường hợp duy nhất ở nước ta, cả hai vợ chồng đều có công khai sông dẫn thủy đã được triều đình lấy tên để đặt tên cho công trình mà họ đã làm nên; đặc biệt là công sức đóng góp của người phụ nữ đối với đất nước. Vua Minh Mạng cho khắc hình tượng Vĩnh Tế Hà lên Cao đỉnh, thờ trước sân chầu Thế Tổ Miếu. Dưới chân núi Thoại Sơn, từ buổi ấy nhân dân đã lập đền thờ hai ông bà Thoại Ngọc Hầu, bốn mùa hương khói tri ân.

Để mua ve may bay di huexin vui lòng liên hệ với chúng tôi.

0 nhận xét
Nhãn: , , , , , , , ,

Kỳ 5: Cùng đi du lịch Huế, thưởng thức những họa tiết khắc trên Cửu Đỉnh Huế - Cao Đỉnh


Cao đỉnh Huế với hình khắc Hành, Đại pháo, Mặt trời

THÔNG 蔥 8. Thông (蔥), tục danh cây rau hành, còn có tên là cây hống, là thái bá, hòa sự thảo, lộc thai. Tính của củ hành có chất hăng lại hay phát dẫn tà khí ra ngoài; củ hành, lá rụng ống, đều ăn được, muối làm dưa ăn ngon hơn, các nhà Đông y nói, có thể dùng củ và lá để làm thuốc chữa đau đầu, thoát mồ hôi. Hành là món gia vị hương hoa nhưng không thể thiếu trong các món ăn có chất tanh. Người ta nấu món thịt lợn bắt buộc phải có củ hành kèm theo mới tuyệt: “Con lợn ủn ỉn mua hành cho tôi”. Hành là giống rau đem lại sự thơm tho cho người trồng của ruộng đồng nước Việt. Nhưng vì có mùi hăng, người tu đạo Phật không thường dùng.

Năm Minh Mạng thứ 17, đúc xong Cửu đỉnh, cho chạm hình tượng cây hành vào Cao đỉnh.
ĐẠI PHÁO 大礮
9. Đại Pháo (大礮), thường gọi đại bác, là loại súng lớn, được sản xuất dưới thời vua Gia Long và Minh Mạng. Khi bắn đại pháo, người ta phải lau nòng súng, nạp thuốc súng ở phía sau và dẫn ra một ngòi nổ cháy chậm, quả đạn được đẩy ngược vào nòng súng, người pháo thủ châm ngòi bằng mồi lửa, thuốc súng cháy, phát nổ tạo nên sức nén và sinh ra một lực rất mạnh, đẩy viên đạn bay đi. Loại đại pháo này thường dùng để công phá thành trì, bắn vào hạm thuyền, hay dùng để phát hiệu lệnh. Thời Nguyễn sơ, đây là loại vũ khí uy dũng, tiếng nổ lớn, làm cho đối phương phải khiếp sợ. Vì thế mà người xưa xem đại bác như vị Thần công.
Đại diện cho loại đại pháo này, người ta thấy, hai bên cửa ra vào Hoàng thành phía trước Ngọ Môn, hiện còn “Cửu vị Thần công” được đúc xong vào năm 1804 dưới thời vua Gia Long “sừng sững chầu hai bên có Tả đại tướng quân và Hữu đại tướng quân”; chín khẩu “Thần súng” này lấy theo tứ thời Xuân, Hạ, Thu, Đông cùng ngũ hành Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ mà đặt tên. Khi đúc xong, khắc sự tích và tên vào thân súng. Đây thực sự là những tác phẩm độc đáo vừa mang tính nghệ thuật tinh xảo, vừa đạt trình độ kỹ thuật cao, thể hiện thành tựu về nghề đúc đồng Việt Nam từ lâu đời. Đồng thời “Thần công” ẩn chứa những nét văn hóa tâm linh mà uy dũng trong việc hộ quốc.

Nhiều khẩu đại bác “có công yểm trợ” bắn trúng quân thù, chiến thắng trận mạc được triều đình phong tặng tước vị và “phong chức” rất cao, chẳng hạn như “Thần oai vô địch đại tướng quân, Thượng tướng quân vô địch”... (Thống lĩnh quân đội tối cao, quyền uy không khác gì thần thánh, chẳng có gì chống lại được). Xứng đáng là “vua chiến trường” thời ấy. Dưới triều Minh Mạng, mỗi đơn vị bộ binh (gọi là vệ, mỗi vệ khoảng 500 người) được trang bị hai khẩu Thần công (loại nhỏ), 200 khẩu súng điểu thương và 21 ngọn cờ. Tùy theo vị trí nhiều pháo đài, trên các vọng lâu của Kinh thành Huế, các tỉnh, trấn đều có đặt các loại Thần công to, nhỏ khác nhau.
Năm Minh Mạng thứ 17, đúc xong Cửu đỉnh, cho khắc hình tượng đại pháo này vào Cao đỉnh.
Do quan niệm súng đại bác như là vị thần hộ vệ, mà thời xưa có nhiều quan võ khi được nhà vua phong chức, hay các sĩ tử trước khi thi võ, hoặc sắp phải ra chiến trận thường sắm lễ vật đến dâng lên vị thần này. Cầu mong “Thần công” che chở cho họ khỏi bị đường tên mũi đạn, ra trận là đánh thắng quân thù, thi đỗ thứ hạng cao và thăng tiến nhanh trên đường binh nghiệp.
NHẬT 日
10. Nhật (日), tức là mặt trời, chỉ ban ngày, ánh sáng. Theo quan niệm của người xưa, mặt trời tượng trưng cho ngôi cửu ngũ chí tôn, bậc thiên tử. Ở một số nước, người ta tôn thờ mặt trời như vị thần tối thượng, chủ nhân của mọi giới, nên việc tế thần Mặt Trời hàng năm là một lễ nghi rất quan trọng. Theo Kinh Dịch, trời thuộc quẻ Càn, mặt trời thuộc quẻ Ly, biểu hiện của sự ấm áp, sáng sủa khắp mọi nơi. Một ngày mới, mặt trời lên, sinh khí tràn ngập cõi nhân gian vũ trụ. Người xưa bảo: “ân của vua ban như ánh nắng mặt trời chiếu rọi vậy”.

Năm Minh Mạng thứ 17, 1836, đúc xong Cửu đỉnh, nhà vua cho khắc hình tượng mặt trời lên Cao đỉnh.
Thời hiện đại, ánh nắng mặt trời chiếu rọi khắp nơi cũng là tài nguyên năng lượng vô giá.


Để mua ve may bay di huexin vui lòng liên hệ với chúng tôi.

0 nhận xét
Nhãn: , , , , , , , ,

Kỳ 4: Cùng đi du lịch Huế, thưởng thức những họa tiết khắc trên Cửu Đỉnh Huế - Cao Đỉnh


Cao đỉnh với hình khắc Trầm hương và sông Bến Nghé

Trầm hương

6. Trầm Hương, tục danh cây dó bầu, thường gọi cây trầm. Do khi người ta bỏ xuống nước thì nó chìm nên gọi là trầm. Chất dầu của cây trầm rất thơm, có thể bào chế làm thuốc trị thấp khử tà, lại là dược liệu bổ dương được cả Đông lẫn Tây y đều lấy dùng rất nhiều. Miền rừng núi từ Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị trở vào nam Trung Bộ các tỉnh đều có. Sách Nghệ An phong thổ ký chép rằng: cây dó già cỗi, tinh dịch kết lại thành hương, cây còn sống mà đẽo lấy thì gọi là sinh trầm có thể dùng làm thuốc, cây đã chết mà lấy gọi là tử trầm, chỉ dùng chế chất thơm, lấy lúc cây đã mục nát gọi là tốc hương, là mật hương. Loại cây này giống cây liễu to, muốn lấy hương thì đốn ngả cây đã lâu năm, cội rễ cành đốt đều có màu sắc khác nhau, ruột cây rắn và đen, bỏ xuống nước mà chìm gọi là trầm hương, nổi ngang với mặt nước gọi là kê cốt hương, gốc cây là hoàng thục hương, thân cây là sạn hương, cành nhỏ rắn chắc chưa nát là thanh quế hương, gốc và mắt cứng mà lớn là mã đề hương.

Người đi khai thác trầm hương rất gian truân, có khi bỏ cả mạng ở rừng sâu núi thẳm, đúng như câu nói: “Ăn của rừng rưng rưng nước mắt”. Người đi tìm trầm thường kiêng cữ nhiều thứ: trước ngày vào rừng họ thường kiêng ăn thịt những con vật linh, cấm gần phụ nữ, tránh nói năng bậy bạ; khi đến cửa rừng, hay vào ngày gặp được cây dó, người ta thường đặt lễ dâng cúng thần mộc, nên cây trầm còn được người dân miền núi gọi là Cây Thần.
Năm 1830, triều đình cho đặt hộ trầm hương ở Phú Yên, sai mộ dân bên ngoài sung vào. Lấy 30 người làm định ngạch, mỗi người hàng năm nộp thuế 1 cân trầm hương.
Năm Minh Mạng thứ 17, đúc xong Cửu đỉnh, cho chạm hình tượng cây trầm hương vào Cao đỉnh.
Trầm hương Việt Nam được các nước theo Phật giáo, Hồi giáo dùng nhiều trong tế lễ, được xem là một loại dược liệu cao cấp, dùng để chế thuốc trị hen suyễn, tăng cường sinh lực. Trong Tây y, trầm là thành phần cơ bản để làm biệt dược điều trị chứng ung thư bàng quang. Cây trầm cũng còn được dùng tạc tượng thờ, làm vật trấn yểm khí tà, xua đuổi ma quái...

Thời trước, trầm hương nổi tiếng hơn cả là ở Vạn Giã, Khánh Hòa. Những năm tám mươi của thế kỷ XX, tỉnh Bình Trị Thiên cũ có lúc xuất khẩu ra nước ngoài lên đến hàng trăm tấn, ngành xuất khẩu trầm bấy giờ được mệnh danh là “vua trầm” Việt Nam. Do cây trầm có nhiều ích lợi mà ngày nay người dân các tỉnh miền Trung và Tây Bắc Việt Nam đều có trồng, có nơi trồng xen canh đến hàng chục hécta. Nhưng để cây dó bầu ấy có tinh dịch làm dược liệu cao cấp thì nó cần phải sinh trưởng đến hàng chục năm sau.
 Ngưu chử giang

 7. Ngưu Chử Giang, tục gọi là sông Bến Nghé, sông ở vùng thành phố Hồ Chí Minh; xưa sông này chảy qua huyện Tân Bình nên còn có tên sông Tân Bình. Khi người Pháp chiếm cứ Sài Gòn và Lục tỉnh, họ gọi là sông Sài Gòn; nguồn sông chảy từ gần Bương Đầm - Lộc Ninh xuống phía nam song song với sông Bé, chảy đến Nhà Bè thì gặp sông Đồng Nai, còn gọi là sông Phước Long, rồi chảy vào cửa biển Cần Giờ. Sông Bến Nghé có nhiều chi lưu, chi phía tây nam chảy trong địa giới tỉnh Gia Định xưa, chi đông bắc chảy ra phía Biên Hòa. Sông rộng và sâu, dài khoảng 256 cây số, ngay từ đầu thế kỷ XIX, tàu thuyền các trấn, tỉnh, trong nước và của các nước ngoài đã ra vào sông này tấp nập, biến nơi đây thành một đô hội sầm uất.

Tục truyền, sông Ngưu Chử xưa kia hai bên bờ còn hoang vắng, ở đây có rất nhiều cá sấu sinh sống, chúng thường rượt đuổi cắn nhau, tiếng kêu như tiếng trâu nghé rống, cho nên người ta mới gọi tên như thế. Còn theo sách Gia Định thành thông chí của Trịnh Hoài Đức, thì nơi đây vốn có cái bến ngày xưa thường có nhiều con nghé (trâu) đến uống nước nên mới gọi tên này. Như vậy, cứ theo hai cách giải thích trên thì vào lúc người Việt mới lập dinh trấn ở đây, vùng đất này còn hoang sơ lắm, và có rất nhiều giống cá sấu, trâu bò rừng sinh sống thành từng bầy đàn đông đúc. Địa danh Bến Nghé cũng được dùng để chỉ thành Gia Định, tức thành Bến Nghé, thành này xưa tiếp giáp với thủ phủ Sài Gòn, và là trung tâm thương mại Chợ Lớn do Hoa kiều lập nên.

Năm Minh Mạng thứ 17, 1836, đúc xong Cửu đỉnh, cho chạm hình tượng sông Bến Nghé lên Cao đỉnh. Năm Tự Đức thứ 3, 1850, sông Bến Nghé được liệt vào hàng sông lớn nổi tiếng của đất nước, được đưa vào trong tự điển, hàng năm triều đình cử quan viên đến tế thần sông.

Khi người Pháp đánh cướp nước ta, họ cho tàu chiến tiến vào Sài Gòn theo đường sông này. Nhà thơ yêu nước - Cụ Đồ Chiểu đã viết về Bến Nghé buổi ấy như sau:

“Bến Nghé của tiền tan bọt nước
Đồng Nai tranh ngói nhuốm màu mây”...

Về sau cụ được người nhà đưa về lánh nạn ở Ba Tri thuộc tỉnh Bến Tre ngày nay.

Bến Nghé thực sự là con sông lớn đã tạo nên nhiều chi mạch giao thông tiện lợi cho tàu thuyền tấp nập lui tới thành Gia Định buôn bán. Từ đây có đường thông ra biển Đông; rất thuận lợi cho các tỉnh miền Đông Nam Bộ nước ta trong sự hội nhập với thế giới ngày nay.

Để mua ve may bay di huexin vui lòng liên hệ với chúng tôi.

0 nhận xét
Nhãn: , , , , , ,

Kỳ 3: Cùng đi du lịch Huế, thưởng thức những họa tiết khắc trên Cửu Đỉnh Huế - Cao Đỉnh


THIÊN TÔN SƠN

4. Thiên Tôn Sơn, tức núi Thiên Tôn, còn gọi là núi Triệu Tường, núi Am, ở tỉnh Thanh Hóa. Núi Thiên Tôn nằm về phía tây bắc huyện Hà Trung (huyện Tống Sơn cũ); trong vùng núi có Gia Miêu ngoại trang (nguyên quán của dòng họ Nguyễn Phúc), có lăng Triệu tổ Nguyễn Kim của nhà Nguyễn, và lăng Đức Bà (vợ của Nguyễn Kim) cũng táng gần đó. Mạch núi này chạy từ huyện Thạch Thành như chuỗi ngọc kéo xuống, rồi nổi lên 12 ngọn liền nhau, cỏ cây xanh tốt trông như gấm vóc; ở phía đông bắc núi Thiên Tôn có dãy Tam Điệp, rồi đến núi Thần Phù chạy dài ở phía trái; ở phía tây có núi Điều Doanh, núi Trạch Lâm, núi Trang Chữ chạy vòng ở phía phải. Nguồn nước từ khe Rồng rót xuống Tống Giang, lượn vòng ở đằng trước, người xưa gọi là núi Am, núi Triệu Tường. Năm Minh Mạng thứ 2, 1821, vua dụ rằng: “Nước nhà ta gây dựng nghiệp lớn, giữ mệnh trời lâu dài. Kính nghĩ lăng tổ khí thiêng chung đúc, chứa chất phúc lành, phong thần núi hiệu là Thiên Tôn, đều làm đền thờ để đáp ơn thần”; núi Thiên Tôn còn được thờ theo vào đàn Nam Giao, ở Kinh đô Huế. Cùng giữa năm ấy, vua Minh Mạng ngự giá bắc tuần, thân đến yết Nguyên miếu Triệu Tường, bái vọng thần núi Thiên Tôn. Lễ xong, vua nói rằng: “Trẫm trông núi Kiều (ví sự nghiệp của Nguyễn Kim cao cả và huyền diệu như núi Kiều ở Trung Quốc) nhớ đến công đức tổ tiên. Sau khi hồi loan, sẽ soạn văn dựng bia để tỏ rõ từ đâu gây nghiệp lớn, truyền lâu dài hàng ức vạn năm”. Núi Thiên Tôn được các nhà phong thủy xem như là ngọn núi thiêng phò tá linh địa phát tích quần hùng nước Việt, mà sau này xem ra có phần đúng là họ Nguyễn Phúc. Năm 1835, vua Minh Mạng cho xây thành bao ngoài khu Nguyên miếu, phái quân canh phòng, hộ vệ nghiêm ngặt. Lại xây thêm công đường, nhà cửa, để làm nơi quan quân đóng giữ, đặt tên thành Triệu Tường.

Năm Minh Mạng thứ 17, đúc xong Cửu đỉnh, khắc hình tượng núi Thiên Tôn vào Cao đỉnh, lại cho liệt vào hàng danh sơn nổi tiếng, chép trong điển thờ, hàng năm phái quan đến tế thần núi.
Có tư liệu nói rằng, vào cuối năm 1788, vua Quang Trung từ Phú Xuân dẫn đại binh ra bắc đuổi quân xâm lược nhà Thanh; trước lúc đánh vào Thăng Long, ông đã cho lập đại bản doanh ở vùng núi này để cũng cố lực lượng, tổng duyệt binh mã lần cuối, dựa dãy Tam Điệp hùng vĩ cách đấy một đoạn về phía bắc để làm lễ tế cờ; trước tam quân trăm họ, nhà vua dõng dạc tuyên bố, phải quét sạch quân xâm lược nhà Thanh ra khỏi bờ cõi, giải phóng giang sơn, và với quyết tâm rất cao để giành thắng lợi cũng chỉ độ mấy ngày. Quả nhiên sau đúng vậy. Người am tường binh pháp nói rằng, chiến công oai hùng ấy của vua Quang Trung đã được sơn thần ở Thanh Hóa và Tam Điệp linh thiêng phù trợ.

 TỬ VI HOA

5. Tử Vi Hoa, tục danh là hoa tử vi, còn gọi hoa phạ dưỡng. Người Trung Quốc gọi là hồng vi hoa, bá tử kinh, ngũ lý hương... Hoa có mùi thơm dịu, phảng phất nhẹ nhàng và thường nở vào mùa thu. Cây có đặc tính hay “nhột”, hễ lấy tay cạo ngoài da cây, thì trên ngọn cây lại rung động. Vì hoa vốn nở thành chùm dài hơn 10cm, sáu cánh rời nhau, phiến hoa quăn và uốn lượn ở mép, lại giữ được tươi lâu, nên thuở xưa vua chúa Trung Quốc và Việt Nam thường ưa thích và hay cho trồng nhiều loại hoa này ở tiền sảnh trong cung cấm. Hoa tử vi, ngoài loại sắc tím lại có loại sắc hồng và sắc bạch, loại hoa tím có đới màu thanh lam, gọi là hoa thúy vi. Hoa mọc thành chùm dài, sáu cánh hoa rời nhau, phiến quăn, uốn lượn ở mép. Ngày trước vì lối kiêng tránh, húy kỵ (tên mẹ vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa) người Huế thường gọi trại ra là bông tử vi. Cây hoa tử vi dễ trồng, ưa khí hậu mát ẩm. Nhân giống bằng hạt. Gieo ươm như các loại giống cây gỗ khác; cây trưởng thành có thể cao đến 4m. Cành vuông, mềm và dài, hơi đỏ, thân cây to bằng cánh tay, có cây cũng lớn hơn đôi chút, vỏ cây khi tróc ra thì rụng từng mảng trông giống thân cây ổi. Lá tử vi mọc đối nhau, hình trái xoan nhọn, trơn bóng.

Theo các nhà đông y, thì một số thành phần của cây tử vi rất quí như: hoa, rễ có vị hơi đắng, tính hàn, có thể dùng làm thuốc, chữa hoạt huyết, chỉ huyết, giải độc, thanh nhiệt, tiêu thũng; hoa của nó còn là một dược liệu quí dùng làm thuốc chữa trị cho người phụ nữ sau khi sinh nở chẳng may bị mắc chứng sản hậu lưu huyết, đau bụng, máu kết thành hòn cục...
Ngoài ra, rễ của hoa tử vi còn được dùng bào chế làm thuốc chữa mụn nhọt, ghẻ lở, các bệnh xuất huyết, viêm tuyến vú, viêm gan. Vỏ thân dùng để chữa bế kinh, đau cổ họng, chữa lở ngứa ngoài da...
Do đặc điểm của cây tử vi rất lạ: vừa có hoa, vừa có hương sắc lại giữ được tươi lâu và thành phần có nhiều dược tính mang lại ích lợi cho đời sống của con người, cho nên hoa tử vi được cổ nhân xem là một loài “kỳ hoa dị thảo”.
Năm Minh Mạng thứ 17, 1836, đúc xong Cửu đỉnh, cho chạm hình tượng hoa tử vi vào Cao đỉnh.
Ngày nay, nhiều tỉnh thành của Việt Nam đều có trồng hoa tử vi, đặc biệt người Huế rất thích loại hoa này.


Để mua ve may bay di huexin vui lòng liên hệ với chúng tôi.

0 nhận xét
Nhãn: , , , , , , , ,

Kỳ 2 - Những họa tiết khắc trên Cửu Đỉnh Huế


Cao đỉnh - tượng trưng cho sự vĩ đại (biểu tượng cho Vua Gia Long)

1. Cao Đỉnh - Đỉnh đặt ở chính giữa tượng trưng cho sự vĩ đại TRĨ 稚

2. Trĩ (稚), tức là con chim trĩ, là loại chim quí. Do đặc điểm tự nhiên, ngày xưa người ta thường bảo, chỗ của nó bay hay đậu là chỗ rất sạch, nghĩa là nơi ấy môi trường trong lành; loài chim trĩ có cá tính rất lạ, nếu chẳng may bị bẫy mắc lưới liền tự tử, nên nó được xem là loài chim có khí tiết ngay thẳng. Chim trĩ trống có mào, đuôi dài, thân nhiều màu sắc, hay chọi nhau. Sách Cầm kinh nói: con nào lông đỏ màu vàng gọi là miết trĩ, lông trắng gọi là hãn trĩ, lông đen gọi là hải trĩ, lông ở trên lưng có nhiều màu sắc gọi là phỉ thúy trĩ, loài giống rất nhiều, nhưng giống chim trĩ trắng là quí hơn cả. Sách An Nam chí chép rằng: Thời vua Thành Vương nhà Chu, người ở xứ Việt Thường sang dâng chim trĩ trắng; thời vua Quang Vũ nhà Hán, các quận Nhật Nam và Cửu Chân đều có dâng chim trĩ trắng. Sách Lễ ký chép rằng: “Chim trĩ bay xuống biển hóa thành con sò”, tức là nói về loài chim này. Xem vậy đủ biết chim trĩ là loài chim quí hiếm ví như “thần điểu” từ ngàn xưa đã có nhiều ở nước ta.Năm Minh Mạng thứ 17, đúc xong Cửu đỉnh, cho chạm hình tượng chim trĩ vào Cao đỉnh.

Theo Sách đỏ Việt Nam, giống chim trĩ có trĩ sao, trĩ đỏ, thuộc bộ gà. Nhìn chung loài chim trĩ có kích thước lớn, đuôi dài, nhất là con đực, bộ lông của nó có nhiều màu sắc đẹp. Cả con mái và con trống đều không có cựa. Chim trĩ sao kiếm ăn và làm tổ ở rừng thường xanh um trên các đỉnh và sườn đồi có độ dốc khác nhau, phổ biến hơn ở dưới 700 mét; chim trĩ đỏ thì chọn nơi thích hợp, quen hơn là vùng đồi núi thấp, không bao xa nương rẫy, không gặp rừng quá rậm.Chim trĩ là giống chim quí, ở Việt Nam trước đây thường gặp nhiều tại cánh rừng các tỉnh Cao Bằng, Lạng Sơn, Lào Cai, Bắc Cạn, Hòa Bình, Ninh Bình, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Đắc Lắc, Gia Lai, Kontum, Lâm Đồng...Chim trĩ là loài chim rất có giá trị khoa học cao, thẩm mỹ đẹp. Nó là một loài chim có “nhan sắc” nổi tiếng, được các nước trên thế giới rất ưa chuộng và nuôi nhiều để làm cảnh. Người xưa thường quan niệm, chim trĩ cũng là loài chim đem lại rất nhiều may mắn tốt lành.

Ngày nay, có rất nhiều nguyên nhân khiến rừng bị xâm hại, vì thế mà cá thể chim trĩ ở trên thế giới và Việt Nam còn lại rất ít, có nguy cơ mất giống nòi, nên nó đã được khẩn cấp đưa vào sách đỏ cần được bảo vệ.
MIẾT 鱉
3. Miết (鱉), tục danh con trạnh (25); lại gọi con đoàn ngư, hay con hà bá tòng sự. Con trạnh nhìn qua tương tự con rùa, bước đi của nó nặng nề, rù rờ, khập khiễng mà xa đến ngàn dặm cũng tới. Lại có một loại gọi là con nguyên. Các sách xưa chép rằng: con nguyên gần giống con trạnh mà to, thân rộng hơn, có con lớn từ 1 đến 2 trượng, đó là con vật đứng đầu các loài có mai vậy, tục gọi con giải. Sách Gia Định thành thông chí của Trịnh Hoài Đức chép rằng: Miết còn có tên nữa là hôn, đầu nhọn mà ở ria có thịt, tính hay cắn, thịt của nó có vị béo và ngon, con nhỏ càng ngon hơn. Nên tục ngữ có câu: “rùa dùng cân, trạnh dùng lạng”, ý nói rùa nên dùng con to, còn trạnh (miết) dùng con nhỏ, thịt mới ngon. Các nhà Đông y xem thịt và máu của con trạnh có nhiều dược tính, bổ dưỡng, có tác dụng nhanh với người lớn tuổi yếu chân, suy lực. Vùng sông nước của xứ nào ở Việt Nam hễ có vực sâu thường có trạnh sống. Lại có giống trạnh (hôn) sống ở biển, giá trị kinh tế rất cao.

Năm Minh Mạng thứ 17, đúc xong Cửu đỉnh, cho chạm hình tượng con trạnh vào Cao đỉnh.Ở Huế bây giờ, có câu chuyện kể về con trạnh, mang màu sắc thần bí, rằng mấy chục năm qua, những người dân hành hương hay sang đò sông Hương, đoạn ngang chân núi Ngọc Trản, để lên điện Hòn Chén dâng hương cầu nguyện Thần nữ Thiên Y A Na và Mẫu Liễu Hạnh, thỉnh thoảng vẫn gặp con vật này nổi lập lờ trên mặt nước để thở, thân hình nó to như “tấm phản”, không hiểu là con gì mà hơi giống rùa, lại trông giống con ba ba. Nên người ta mới có câu: “Đầu ghềnh có con ba ba. Kẻ kêu con trạnh, người la con rùa”, hóa ra con này, tức con trạnh. Tương truyền, dưới triều Đồng Khánh, nhà vua cơ thể bị suy nhược lại hay mê tín, ông tự nhận mình là đệ tử của Nữ thần thờ ở điện này, nên đã cho người đem về thả ở vực sâu dưới chân núi Hòn Chén mấy con trạnh. Bây giờ thì chúng đã quá già. Vì vậy mà nhiều người xem con trạnh cũng là loài “vật thiêng” trong tứ linh. Và cái vực sâu của sông Hương dưới chân Hòn Chén, nơi mà “mấy con trạnh” đang sống cũng được xem là một huyệt chủ rất linh diệu của cuộc đất đã góp phần làm nên vị trí Thần kinh xứ Huế.



Để mua ve may bay di huexin vui lòng liên hệ với chúng tôi.

0 nhận xét
 
Vé máy bay, Mua vé máy bay giá rẻ © 2012 | Designed by Canvas Art, in collaboration with Business Listings , Radio stations and Corporate Office Headquarters