Nhãn: , , , , , , , ,

Kỳ 1 - Di Sản Văn Hóa Huế: Những họa tiết khắc trên cửu đỉnh


1. Cao đỉnh (高鼎); 2. Nhân đỉnh (仁鼎); 3. Chương đỉnh (章鼎); 4. Anh đỉnh (英鼎); 5. Nghị đỉnh (毅鼎); 6. Thuần đỉnh (純鼎); 7. Tuyên đỉnh (宣鼎); 8. Dụ đỉnh (宣鼎); 9. Huyền đỉnh (玄鼎). Cửu đỉnh ở Huế

Mùa hạ tháng 5, năm Bính Thân, niên hiệu Minh Mạng thứ 17 (TL từ 14/6 đến 13/7/1836), người ta đã đúc xong chín cái đỉnh đồng. Vua Minh Mạng bảo Nội các rằng: “Nay đúc đỉnh, khắc các hình tượng núi, sông, và mọi vật cũng không cần phải khắc đủ cả, duy phải khắc rõ tên, hiệu và xứ sở để tiện nhận xét. Đó là cái ý người xưa vẽ hình mọi vật”...

...Những họa tiết ẩn dụ về hình tượng mặt trời, mặt trăng, gió, mưa, sấm, chớp, sông, núi, cửa biển, cửa quan, cây gỗ, loài hoa, chim chóc, loài cá, ngũ cốc, linh vật, rau, đậu, củ, quả, xe, thuyền, vũ khí… của đất nước được tinh chọn, phân ra từng nhóm, mỗi nhóm lại chọn ra chín loại, được sắp xếp và tuân thủ theo “quan niệm, triết học, chức năng, vị trí của mỗi đỉnh”.

...Nhóm họa tiết về hình tượng dưới đây chúng tôi căn cứ vào thực tế của từng hình tượng được đúc khắc theo bố cục của từng đỉnh để phân loại, sắp xếp; do vậy, có thể không đồng nhất với cách phân loại, sắp xếp của một số tác giả khác:

Cửu Đỉnh.

Chín tên của Cửu đỉnh:

1. Cao đỉnh (高鼎); 2. Nhân đỉnh (仁鼎); 3. Chương đỉnh (章鼎);
4. Anh đỉnh (英鼎); 5. Nghị đỉnh (毅鼎); 6. Thuần đỉnh (純鼎);
7. Tuyên đỉnh (宣鼎); 8. Dụ đỉnh (宣鼎); 9. Huyền đỉnh (玄鼎).

Chín tinh tú và thiên nhiên trong vũ trụ:

1. Nhật (Mặt trời); 2. Nguyệt (Mặt trăng); 3. Ngũ Tinh (Năm ngôi sao); 4. Bắc Đẩu (Sao Bắc Đẩu); 5. Nam Đẩu (Sao Nam Đẩu); 6. Phong (Gió); 7. Vân (Mây); 8. Lôi (Sấm); 9. Vũ (Mưa).

Chín ngọn núi lớn:

1. Thiên Tôn Sơn (Núi Thiên Tôn ở Thanh Hóa); 2. Ngự Bình Sơn (Núi Ngự Bình ở Thừa Thiên Huế); 3. Thương Sơn (Núi Thương ở Thừa Thiên Huế); 4. Hồng Sơn (Núi Hồng Lĩnh ở Hà Tĩnh); 5. Tản Viên Sơn (Núi Tản Viên ở thành phố Hà Nội); 6. Duệ Sơn (Núi Duệ ở Thừa Thiên Huế); 7. Đại Lĩnh (Núi Đại Lãnh ranh giới giữa Phú Yên và Khánh Hòa); 8. Hải Vân Quan (Cửa quan trên đèo Hải Vân giữa Đà Nẵng và Thừa Thiên Huế); 9. Hoành Sơn (Đèo Ngang, giữa Quảng Bình và Hà Tĩnh).

Chín sông lớn:

1. Ngưu Chử Giang (Sông Bến Nghé ở thành phố Hồ Chí Minh); 2. Hương Giang (Sông Hương ở tỉnh Thừa Thiên Huế); 3. Linh Giang (Sông Gianh ở Quảng Bình); 4. Mã Giang (Sông Mã ở Thanh Hóa); 5. Lô Hà (Sông Lô chảy qua các tỉnh Hà Giang, Tuyên Quang, Phú Thọ, Vĩnh Phúc); 6. Bạch Đằng Giang (Sông Bạch Đằng ở Quảng Ninh và thành phố Hải Phòng); 7. Thạch Hãn Giang (Sông Thạch Hãn ở Quảng Trị); 8. Lam Giang (Sông Lam ở Nghệ An); 9. Nhĩ Hà (Sông Hồng ở các tỉnh Bắc Bộ và thành phố Hà Nội).

Chín sông đào và sông khác:

1. Vĩnh Tế Hà (Kênh đào Vĩnh Tế ở An Giang và Kiên Giang); 2. Vĩnh Điện Hà (Sông đào Vĩnh Điện ở Quảng Nam); 3. Vệ Giang (Sông Vệ ở Quảng Ngãi); 4. Lợi Nông Hà (Sông đào Lợi Nông ở Thừa Thiên Huế); 5. Phổ Lợi Hà (Sông đào Phổ Lợi ở Thừa Thiên Huế); 6. Vĩnh Định Hà (Sông đào Vĩnh Định ở Quảng Trị); 7. Cửu An Hà (Sông đào Cửu An ở Hưng Yên); 8. Thao Hà (Sông Thao ở Phú Thọ); 9. Ngân Hán (Sông Ngân ở thiên trung).

Chín cửa biển, cửa quan, biển, cầu vồng:

1. Đông Hải (Biển phía Đông của Việt Nam); 2. Nam Hải (Biển phía Nam của Việt Nam); 3. Tây Hải (Biển phía Tây của Việt Nam); 4. Thuận An Hải Khẩu (Cửa biển Thuận An ở Thừa Thiên Huế); 5. Cần Giờ Hải Khẩu (Cửa biển Cần Giờ ở thành phố Hồ Chí Minh); 6. Đà Nẵng Hải Khẩu (Cửa biển Đà Nẵng ở thành phố Đà Nẵng); 7. Quảng Bình Quan (Cửa thành ở Quảng Bình); 8. Hồng (Cầu vồng); 9. Cửa sông Tiền, sông Hậu (ở Nam Bộ).

Chín con thú lớn bốn chân:

1. Hổ (con cọp); 2. Tượng (con voi); 3. Báo (con beo); 4. Tê (con tê giác); 5. Mã (con ngựa); 6. Ly Ngưu (con bò tót); 7. Dương (con dê); 8. Thỉ (con heo, lợn); 9. Sơn Mã (lộc mã - ngựa núi, con hươu).

Chín con vật linh:

1. Long (con rồng); 2. Miết (con trạnh); 3. Nhân Ngư (cá voi); 4. Linh Qui (rùa thiêng); 5. Ngạc Ngư (cá sấu); 6. Đại Mại (con đồi mồi); 7. Nhiêm Xà (con trăn); 8. Ngoan (rùa biển); 9. Mãng Xà (rắn lớn).

Chín loài chim:

1. Khổng Tước (chim công); 2. Trĩ (chim trĩ); 3. Khôi Hạc (chim hạc); 4. Uyên Ương (chim uyên ương); 5. Hoàng Oanh (chim vàng anh); 6. Tần Cát Liễu (chim nhồng); 7. Kê (con gà trống); 8. Anh Vũ (chim vẹt); 9. Thốc Thu (chim ông già).

Chín loại cây lương thực:

1. Canh (lúa tẻ); 2. Nhu (lúa nếp); 3. Lục Đậu (hạt đậu xanh); 4. Đậu Khấu (quả đậu khấu); 5. Biển Đậu (quả đậu ván); 6. Hoàng Đậu (đậu nành); 7. Địa Đậu (lạc - đậu phụng); 8. Bạch Đậu (đậu trắng); 9. Nam Trân (trái lòn bon).

Chín loại rau, củ:

1. Thông (cây rau hành, hống, thái bá); 2. Cửu (cây rau hẹ, chung nhũ, cửu thái); 3. Giới (cây củ kiệu, hỏa thông, thái chi); 4. Uất Kim (củ nghệ, mã mê, khương hoàng); 5. Giới (cây rau cải); 6. Hương Nhu (cây rau é, hương nhung); 7. Tử Tô (cây tía tô, xích tô); 8. Khương (củ gừng); 9. Toán (củ tỏi, huân, hồ).

Chín loại hoa:

1. Tử Vi Hoa (hoa tử vi, phạ dưỡng, hồng vi hoa, bá tử kinh...); 2. Mạt Lỵ (hoa nhài - lài, nại hoa, mạt lệ, mộc lệ hoa...); 3. Mai Khôi Hoa (hoa hồng, hoa thích mai,...); 4. Hải Đường Hoa (hoa hải đường); 5. Quỳ Hoa (hoa quỳ); 6. Trân Châu Hoa (hoa hòe - hoa sói); 7. Thuấn Hoa (hoa mộc cận); 8. Liên Hoa (hoa sen); 9. Ngũ Diệp Lan (hoa lan năm lá).

Chín loại cây lấy quả:

1. Ba La Mật (quả mít); 2. Am La (quả xoài); 4. Lê (quả lê); 5. Mai (quả mơ - mận trắng); 6. Xích Ty Đào (đào đất - đào tơ); 7. Súc Sa Mật (sa nhân); Long Nhãn (quả nhãn); 8. Lệ Chi (quả vải); 9. Miên (bông gòn).
Chín loại dược liệu quí:
1. Trầm Hương (cây dó bầu); 2. Kỳ Nam (chất dầu đặc biệt của cây dó bầu); 3. Tang (cây dâu); 4. Tô Hợp (cây tô hợp lấy dầu); 5. Yến Oa (ở đây hiểu là tổ yến); 6. Phù Lưu (cây trầu không); 7. Tân Lang (cây cau có quả); 8. Quế (vỏ cây quế - sâm quế); 9. Nam Sâm (sâm nam - sâm ta).

Chín loại cây thân gỗ:

1. Thiết Mộc (cây gỗ lim); 2. Thuận Mộc (cây gỗ huện); 3. Tử Mộc (cây gỗ kiền kiền); 4. Đàn Mộc (cây hoàng đàn); 5. Nam Mộc (cây gỗ sao); 6. Tòng (cây gỗ tùng - cây thông); 7. Bách (cây gỗ bá - trắc bách diệp); 8. Tất Mộc (cây gỗ lấy nhựa sơn); 9. Ngô Đồng (cây có hoa mọc thành chùm màu hồng tím khác với cây vông đồng).

Chín loại vũ khí:
1. Đại Pháo (đại bác - súng lớn); 2. Luân Xa Pháo (pháo lớn đặt trên bệ đỡ có bánh xe); 3. Điểu Thương (súng bắn chim); 4. Trường Thương (giáo dài); 5. Bài Đao (bảng gác đao kiếm - siêu đao); 6. Nỏ (cung); 7. Phác Đao (cây phạng - loại đao thường); 8. Hỏa Phún Đồng (ống đồng đốt đạn, ống hỏa lệnh); 9. Hồ Điệp Tử (đạn bươm bướm: khi nổ tung giống hình nở tổ của con bươm bướm nên có tên vậy).
Chín loài cá, ốc, côn trùng:

1. Lục Hoa Ngư (cá tràu, cá đô); 2. Đăng Sơn Ngư (con cá rô); 3. Thạch Thủ Ngư (cá đầu đá, có sách phiên là cá mú?); 4. Bạng (con ngao); 5. Hậu ngư (con sam); 6. Cáp (khôi cáp - con sò huyết); 7. Thiền (con ve sầu, con điêu, tề nữ); 8. Hồ Gia Tử (con đuôn dừa); 9. Quế Đố (con cà cuống, đà đuống...).
Chín loại thuyền, xe, cờ:

1. Đa Sách Thuyền (loại thuyền có nhiều dây); 2. Lâu Thuyền (thuyền có lầu); 3. Mông Đồng Thuyền (loại thuyền chiến); 4. Hải Đạo (thuyền đi biển); 5. Đỉnh (loại thuyền nhỏ, thuyền đua); 6. Lê Thuyền (thuyền có sáu mái chèo); 7. Ô Thuyền (thuyền sơn màu đen); 8. Xa (xe); 9. Kỳ (cờ hiệu).

Tháng 5 năm Bính Thân (tháng 6.1836), đã “Đúc xong chín cái đỉnh”. Chính xác hơn là người ta mới đúc xong phần thô của chín cái đỉnh đồng đồ sộ, và còn phải cần làm cho hình thù của nó nhẵn nhụi đẹp hơn, mà thuật ngữ kỹ thuật đúc gọi là làm nguội để đẩy lộ rõ các đường nét mỹ thuật theo từng chủ đề của họa tiết. Bởi vậy, nên vua Minh Mạng mới sai Nội các tuyển chọn nghệ nhân, tập trung sức lực, trí tuệ của cả nước về Kinh đô để khắc những hình tượng đã được đúc nổi phần thô theo chủ đề lên từng đỉnh trước đó. Và phải mất hơn tám tháng sau, bằng những dụng cụ (đồ nghề) tự chế để sử dụng được thích hợp hơn trong việc trau chuốt, tạo nên các đường nét trên khuôn hình, và bằng phương pháp thủ công như: tỉa, gọt, đục đẽo, chạm trổ… thì người ta mới khắc xong 162 họa tiết hình tượng; tập hợp thành bức tranh toàn cảnh của đất nước Việt Nam thống nhất thời nhà Nguyễn.

(Sưu Tầm)


Để mua ve may bay di hue, xin vui lòng liên hệ với chúng tôi.

0 nhận xét
Nhãn: , , , , , , , ,

Cùng đi du lịch ở Cửu Đỉnh Huế - Hình ảnh đất nước việt nam qua hình ảnh.


Cửu đỉnh ,công trình nghệ thuật ở Huế

Trong kho tàng văn hóa vật thể của cố đô Huế, Cửu đỉnh là một trong những công trình nghệ thuật đặc sắc nhất, một tượng đài văn hóa Việt.


Ai đã từng tham quan Đại nội Huế, đến trước sân Hiển Lâm Các đối diện với Thế Miếu (nơi thờ các vua triều Nguyễn) đều không khỏi ngỡ ngàng, thán phục trước 9 chiếc đỉnh đồng đồ sộ, uy nghi như chứng nhân của lịch sử của một vương triều tồn tại 143 năm.


Theo sách “Đại Nam thực lục chính biên”, bộ Cửu đỉnh được vua Minh Mạng cho khởi đúc vào tháng 12/1835 và hoàn thành tháng 6/1837, do những nghệ nhân Phường đúc Huế thực hiện. Tất cả 9 đỉnh đều có hình dáng chung giống nhau, thân bầu tròn, cổ thắt, miệng loe, trên miệng có hai quai, dưới có ba chân. Nhưng kích thước và khối lượng (khối lượng các đỉnh được ghi rõ bên trái cổ đỉnh) lại không giống nhau, đỉnh cao nhất (Cao đỉnh) 2,5 m, nặng 2.061 kg, đỉnh thấp nhất (Huyền đỉnh) 2,3 m, nặng 1.935 kg.

Các cặp quai trên miệng đỉnh không hoàn toàn giống nhau, cặp đúc vuông, cặp đúc tròn, cặp xoắn theo kiểu dây thừng. Chân đỉnh cũng khác nhau, có bộ uốn theo kiểu chân quỳ, có bộ đúc thẳng. Trên mỗi đỉnh đều khắc nổi tên hiệu do vua Minh Mạng đặt, ứng với thụy hiệu các vị vua Nguyễn. Mở đầu là Cao đỉnh tượng trưng cho sự vĩ đại; Nhân (Nhơn đỉnh) là lòng tốt, tượng trưng đức; Chương đỉnh là sự gương mẫu, là ánh sáng; Anh đỉnh là tài giỏi vinh hạnh, hiển đạt; Nghị đỉnh là ý chí kiên cường, cương nghị; Thuần đỉnh là sự hoàn thiện, phong phú; Tuyên đỉnh là sự hài hòa, tinh thông; Dụ đỉnh là nền tảng sự thịnh vượng; Huyền đỉnh, ứng với nơi sâu thẳm.

Sau khi hoàn thành, Cửu đỉnh được đặt thẳng hàng trước sân Hiển Lâm Các đối diện với Thế Miếu. Riêng Cao đỉnh được đặt ở giữa và lên trước các đỉnh khác 3 m, tượng trưng cho Cao Thế tổ Hoàng đế Nguyễn Ánh - người lập nên vương triều Nguyễn.

Có thể nói Cửu đỉnh là tác phẩm nghệ thuật tổng hợp của nhiều lĩnh vực như: kiến trúc, hội họa, lịch sử, địa lý, văn hóa và sự diệu nghệ của kỹ thuật đúc đồng Việt Nam đầu thề kỷ XIX, từ thiết kế, vẽ mẫu, rồi làm phôi khuôn. Người thợ phải làm ra những chiếc khuôn theo kích cỡ, mẫu mã, ký tự, hoa lá, chim muông, cảnh vật… để khi đúc ra các mẫu tạo ấy sẽ được kết dính với nhau một cách tự nhiên, giống như tự thân nó mọc ra vậy. Quả là kỳ công, tỷ mỉ vô cùng....

Chiêm ngưỡng Cửu đỉnh Huế, du khách gần xa như được tham quan một bộ sưu tập triển lãm độc đáo những hình ảnh của đất nước một cách đầy đủ và thi vị nhất. Vì thế trải qua gần 200 năm nay, Cửu đỉnh Huế không chỉ được coi là một trong những tuyệt tác của nghệ thuật đúc đồng Việt Nam, mà còn là một di sản văn hóa lịch sử đặc sắc có một không hai của Huế và Việt Nam.


Để mua ve may bay di hue, xin vui lòng liên hệ với chúng tôi.

0 nhận xét
Nhãn: , , , , , , , ,

Cùng đi du lịch ở xứ huế - giọng nói là quê hương


XỨ HUẾ: GIỌNG NÓI LÀ QUÊ HƯƠNG

Xứ Huế: Giọng nói là quê hương. Du lịch Huế. Du lịch Việt Nam, du lich Hue. Thong tin du lich Hue.
“Anh yêu là yêu bởi cái chân chất, hiền lành của em chứ không phải yêu cái gì ‘thời thượng’. Em hãy luôn là chính mình và giữ mãi giọng nói của quê mình em nhé!” Đây là câu nói mà một đôi lứa yêu nhau nhắc nhở giữ giọng nói như bản sắc của quê hương mình.

  Giọng nói là quê hương

Khoa học vẫn chưa xác định được giọng nói khác nhau ở các vùng miền, lãnh thổ do yếu tố nào chi phối. Thổ ngữ thường biểu hiện sự khác biệt về thể chất, tính khí của dân tộc. Về mặt thổ nhưỡng, có người cho rằng nơi nước trong thì tiếng nhỏ, nước đục thì tiếng thô. Đó là một ý kiến dựa trên quan sát thực tế, ngoài ra còn có rất nhiều quan điểm giải thích hiện tượng này. Có quan điểm cho rằng do thổ nhưỡng nguồn nước, có quan điểm cho rằng do vị trí địa lí, hay thổ nhưỡng chất đất. Cách nhau mười mấy cây số là đã nói giọng khác nhau rồi. Hay dù uống chung nguồn nước nhưng bên này sông giọng khác, bên kia sông nói giọng khác. Giọng nói quan trọng vì nó như là biểu hiện âm thanh cho người ta nhận biết được quê quán xuất xứ của một người. Giọng nói còn có ý nghĩa tinh thần liên hệ với nơi chôn nhau cắt rốn, nơi con người ta sinh ra và lớn lên. Chỉ cần nghe chất giọng đó vang lên là người ta bồi hồi nhào đến nhận đồng hương. Khi đi xa, ở chốn đất khách thì một thoáng quê hương như vậy làm con người ta rất ấm lòng. Nói bằng giọng đó, nghe với giọng đó, người ta như sống lại những ngày tháng ở quê hương. Kỷ niệm của thời đã xa cứ thế ùa về, và ngày trở lại thăm quê cứ hiển hiện trong tâm trí. Dải sơn hà Tổ quốc ta trải dài từ nam chí bắc, nên giọng nói cũng phân vùng theo tông giọng Bắc – Trung – Nam. Trong tất thảy các thứ tiếng, thứ giọng, tiếng và giọng Huế có tính đặc thù. Người ta ít thấy người Nam nói giọng Huế hay người Bắc nói tiếng Nam mà thường thấy người Huế thay đổi giọng theo môi trường và hoàn cảnh sử dụng. Có một nguyên nhân khá rõ là do người Huế có thể nghe âm và nhại âm theo giọng Nam, Bắc, nhưng giọng Huế nói ra thì người Nam, Bắc khó nghe hết cho suôn. Có thể mường tượng theo phương chiều, nếu giọng Bắc có phương nghiêng bên trái, giọng Nam bên phải thì giọng Huế có phương thẳng đứng. Tính trên dải dất miền Trung thì nam miền Trung từ Đà Nẵng trở vào có giọng gần với người Nam hơn. Bắc miền Trung thì xứ Thanh, xứ Nghệ có nhiều âm, nhiều điệu giọng người Bắc hơn. Trong khu Bình - Trị - Thiên, thì giọng Huế có vẻ tròn âm nhất, cứ nghe qua giọng Quảng Trị, Quảng Bình thì biết. Nhưng điều đặc biệt nhất là người Huế mà không nói giọng Huế thì đừng nhận là người Huế, giọng nói thực sự là quê hương.

Cái âm trọ trẹ rứa mà thương!

Giọng nói rất thiêng liêng, nó như được tích tụ từ hồn núi sông vì thế đánh mất giọng nói của mình là chối từ, cả quê cha đất tổ, cả giòng họ tông đường, ít nhất là đối với người Huế. Những người đi xa vì để thuận tiện trong giao tiếp người ta phải dùng những từ phổ thông toàn dân hay cố gắng làm giọng mình nhẹ hơn, thay đổi chút ít cho phù hợp, mềm và dễ nghe. Nhưng hạnh phúc nhất, sướng nhất vẫn là được nới giọng nói của quê hương mình, giọng cha sinh mẹ đẻ. Tiếng Huế có khi nghe lạ tai với những từ như chi, mô, răng, rứa , tê, chừ, ni, nớ, hỉ, hả, hí... Đây là những từ mà những từ mà muốn biết thì phải tra từ điển ‘sống’ gốc Huế! Những từ này thường giữ vai trò làm âm điệu và cách nói của người Huế trở nên đặc trưng hơn. Nghe ra “Rứa khi mô anh vô trong nớ thì cho em gởi lời hỏi thăm Bác với hí” thì thấy âm điệu trầm bổng thật khác thường. Câu nói này thật ra là “Lúc nào anh vào thì em gửi lời thăm Bác trong đó”. Cũng có lúc giọng Huế rất khó nghe, dễ gây bối rối ở những người ở các địa phương bạn. Người Huế khi nói chuyện với nhau dùng rất ít chữ, câu nói ngắn, gọn mà hàm súc ý. Với họ, việc diễn tả ý tưởng của mình bằng vài chữ sơ sài là một chuyện thường như cơm bữa. Vẫn biết mi là mày, mấy là bao nhiêu, nhưng ‘mi mua mấy?’ thì nghe khác với ‘mày mua cái đó giá bao nhiu dzậy?’ hay ‘thế cái đó có giá bao nhiêu?’ Người Huế nói ít mà hiểu nhiều, nếu thực sự là Huế và Huế với nhau. Người Huế cũng thường dùng những từ rất Huế, của riêng Huế để nói chuyện với nhau. Âm vực khó, khác lạ, không cao không thấp, ít thanh. Giọng bình, trung tính. Người vùng khác thường nói giọng Huế trọ trẹ. Nhưng đúng là cái âm trọ trẹ nghe rứa mà thương.

Một tài liệu thổ âm xứ Huế lại cho rằng dòng sông Hương có ảnh hưởng đến giọng Huế bởi vì dòng sông Hương chảy qua lòng thành phố Huế nên người Huế rất sâu sắc, thâm trầm.

“Con sông dùng dằng, con sông không chảy
Sông chảy vào lòng nên Huế rất sâu”
Thu Bồn
Huế ảnh hưởng của thổ âm vùng Bình Trị Thiên nhưng giọng Huế lại nhẹ nhàng và thanh tao hơn. Các thổ âm chỉ được nói ở các vùng quê nằm lân cận và hay pha các tỉnh bạn. Riêng kinh đô Huế, là một trung tâm văn hóa quan trọng, nơi có chút tính quý tộc, nên giọng Huế ở ngay kinh thành thì như là một thứ ‘đặc sản’ của giọng và tiếng Huế nói chung.

“Giữ chút gì rất Huế mặn mà
Dạ thưa ngọt lịm ai mê say
Và hơi thở mềm, sương khói bay”
Huỳnh Hữu Dụng


Nếu lại được em ru bằng giọng Huế
Được vỗ về như mạ hát ngày xưa
Câu mái đẩy chứa chan lời dịu ngọt
Chết cũng đành không nuối tiếc chi mô”
Tô Kiều Ngân
Cũng bởi thế mà cho dù đi đâu về đâu, hay người ta có đến Huế mấy lần đi nữa thì vẫn thấy Huế có chút gì đó thuỷ chung, vẫn truyền thống, khuôn phép qua giọng nói:


“Dạ thưa xứ Huế bây giờ
Vẫn còn núi Ngự bên bờ sông Hương”
Bùi GiángGiữ tiếng như một tấm lòng
Ý nghĩa là thế, nên thơ là thế, nhưng hoàn cảnh đôi lúc lại khác. Xu thế chung nên các ca sĩ thành danh thường Bắc chinh, Nam tiến. Có người mỗi khi xuất hiện trên truyền hình thường thay đổi giọng nói của mình, giả giọng để nghe phổ thông hơn chứ không giữ giọng Huế nữa. Cũng có người đang hát ở cố kinh nhưng chỉnh giọng khác đi để chứng tỏ mình đã hội nhập. Đôi khi việc làm này tạo nên sự khó nghe và phản cảm không những đối với người Huế, mà còn đối với du khách. Đến Huế họ muốn nghe được tiếng Huế, nghe như để tiếp cận một khía cạnh của con người Huế và văn hóa Huế. Thực tế thì không ai đến Huế để nghe, để thấy bản sắc phai mờ.

Giọng Huế cũng là một thứ quý để mang đi xa. Ai đã nghe giọng bà Tôn Nữ Thị Ninh, người giữ nguyên giọng Huế khi là người phát ngôn của Bộ Ngoại giao Việt Nam thì đồng ý với nhận định trên đây. Người ta nhận ra bà là người ở đâu không chỉ qua tên họ của bà. Phát thanh viên ở Huế vẫn có những chương trình phát trên truyền hình, phát thanh trung ương. Giọng vẫn hay, trầm ấm mà lời nghe vẫn rất rõ. Ca sĩ Hương Mơ và cùng nhiều người khác nữa, dù lập nghiệp xa nhưng vẫn luôn nói giọng Huế quê hương. Có quý mới có người ở xa về thấy thoải mái, thấy sướng khi được nghe, được nói giọng của quê hương, được dùng những từ địa phương rất chi là Huế. Nhiều nhóm xa quê lúc tìm nhau đem quà là giọng Huế, nói chuyện bằng giọng Huế cho đỡ nhớ, bởi lâu không nói thấy thèm!

Để mua ve may bay di hue, xin vui lòng liên hệ với chúng tôi.

0 nhận xét
Nhãn: , , , , , ,

Cùng đi du lịch nghe hò xứ huế



Nghe hò nhớ Huế. Du lịch Huế. Du lịch Việt Nam, du lich Hue. Thong tin du lich Hue.
"Biết ở đâu là cầu Ô Thước
Mênh mông nguyện ước, dưới nước trên trời.
Đêm khuya ngớt tạnh mù khơi,
Khúc sông quạnh vắng, có người sầu riêng."

Tiếng hò theo đò từ xa lại gần rồi lại đi xa, không biết cô lái đò từ đâu đến và đi về đâu, cơ thể dẻo dang làm sao, mặt mũi duyên dáng đến mức nào. Chỉ nghe được lời thổn thức của cô lái đò, gởi gắm tâm tình vào sông, vào nước.

Câu hò xao xuyến, bay bổng, điệu hò chậm rãi, miên man, tiếng hò bâng khuâng, da diết, trong đêm thâu làm chạnh lòng hơn một người.

Người dân xứ Huế dễ rung động với đồng ruộng, sông nước, rừng rậm, cây ngàn. Vì vậy trong đời sống họ hay biểu lộ tâm tình qua những câu hò, điệu hát. Riêng chỉ câu hò đã có cả chục điệu. Trong công việc đồng áng khi đạp nước, đạp lúa, họ cố quên thời gian với những câu hò ô thiết tha, trầm bổng. Khi đập đất, đắp nền, họ trêu chọc nhau với những câu hò hụi lưu loát, linh hoạt. Khi làm đường, đắp đê, họ khuyến khích nhau qua điệu hò nện dồn dập, khẩn trương. Khi kéo bè, kéo gỗ, họ động viên nhau với những điệu hò kéo thác mạnh mẽ, khoẻ khoắn. Khi xay lúa, giã gạo, họ đố đáp nhau qua những câu hò giã gạo sôi động, hào hứng.

"Cây chi trong rừng không lá,
Cá chi dưới biển không xương
Trai nam nhơn giải đặng, thiếp xin kết nghĩa tao khang với chàng...
Cây xương rồng trên rừng không lá,
Con sứa dưới biển là cá không xương,
Anh nay đà đối đặng, em phải kết nghĩa cương thường với anh."

Ở nhà, hò ru con là điệu hò ngọt ngào, êm ái thường ngày mà bà mẹ nào cũng biết. Đứa con nhỏ nào mà không lớn lên với những bài học từ thuở dại thơ.

"Ru con cho théc cho muồi,
Cho mẹ đi chợ mua vôi ăn trầu.
Mua vôi chợ Quán, chợ Cầu,
Mua cau Nam Phổ, mua trầu chợ Dinh.
Chợ Dinh bán áo con trai,
Triều Sơn bán nón, Mậu Tài bán kim."

Trong số các điệu hò nầy, hai điệu được phổ biến rộng rãi có lẽ là hai điệu chèo đò, giống nhau trong câu hát, chỉ có khác nhau chút ít trong cách diễn tả. Hò mái nhì là điệu hò nổi tiếng nhất, buông lơi, man mác, thường được nghe trên dòng sông trầm lặng, độc diễn, nhưng cũng có khi đối đáp giữa hai người cùng nhau tâm sự, kẻ xướng, người xô, gởi lòng vào mây nước trong đêm vắng như hai nhân tình cùng nhau thỏ thẻ mối tình dưới trăng thanh.

Trai:      "Em về ngược gió xang mưa
Thuận buồm xuôi gió biệt mông xa chừng.
Em về anh cũng muốn về theo
Lên truông cát nóng lội đèo đá dăm."
Gái:      "Cát nóng em đưa lưng em cõng
Đá dăm em lượm sạch đường anh đi."

Gần gũi với hò mái nhì là hò mái đẩy, rắn rỏi, dồn nén, thường vang vọng trong khúc sông nước xiết hay ở đầm phá sóng to, gió lớn, người lái đò phải vững tay giữ chèo cho nên điệu hò bớt lơ lửng mà dứt khoát, chắc nịch.

"Một mình cả chống cả chèo
Không ai tát nước đỡ nghèo một phen."

Cách ngân nga của điệu hò mái nhì, mái đẩy thật là đặc biệt, nhất là khi do một nghệ sĩ người Huế biểu diễn. Câu hò bắt đầu với những ò ơ à ơ dài dăng dẳng tưởng không khi nào ngớt. Rồi khi câu hò thật sự bắt đầu, mới được hai chữ lại còn ờ ơ à ơ, xem như người hò chần chừ không muốn đi ngay đến đích để người nghe thưởng thức tiếng ngân của mình. Ngày nay, như múa rối nước lên đường Nam tiến, hát cải lương lấn bước miền Bắc, ca hò Huế cùng bún bò, bánh bèo,... phân tán khắp đất nước, vượt biên ra cả nước ngoài.

Trước thế kỷ 14, xứ Huế còn là vùng đất của người Chàm. Theo bước chân công chúa Huyền Trân, người Việt từ miền Bắc mới dần dần vào hai châu Ô, Rí khai khẩn đất hoang, sống chung với người dân bản địa. Theo những nhà chuyên khảo, ca hò Huế là hệ quả giao lưu giữa văn hoá Champa và văn hoá Việt Nam. Họ khám phá ra, bên cạnh những điệu nam ai, nam bằng, giai điêu lơ lớ tức là hơi nam giọng ai hay ngũ cung ai của hò mái nhì, mái đẩy (do, re non, fa già, sol, la non) là một kết hợp của ngũ cung đúng miền Bắc (do, ré, fa, sol, la) với ngũ cung oán nhạc Champa (do, mi, fa, sol, la). Đặc biệt là kết hợp nầy chỉ giới hạn ở vùng Bình Trị Thiên, tức là ba tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên, không lan vào miền Nam cũng không tràn ra miền Bắc.

Trong lúc chờ đợi, giao lưu Pháp - Việt, sau gần một thế kỷ sống chung và mấy chục năm chinh chiến, lại trên đường nối tiếp. Riêng đối với Huế, hai Festival 2000 và 2002 vừa qua đã là dịp để cho các đoàn văn nghệ Pháp trình bày với công trình đất Thần kinh một mặt văn hoá nào của xứ sở Rousseau và Voltaire. Ngược lại, những đoàn ca hát Huế, Phú Xuân hay Trường Đại học Nghệ thuật, ban nhạc Cung đình hay nhóm tụng kinh niệm Phật của mấy vị tu sĩ cũng đem lai cho thính giả Pháp những làn điệu xa xăm, có khi lạ thường. Thật ra, những câu hò Huế đã từng được thưởng thức trên sâu khấu Paris, ngay cả trong vở múa nhạc Khúc nguyện cầu trong ấy nghệ sĩ Ea Sola khai thác mặt ảm đạm, âu sầu của các câu hò mái nhì, mái đẩy thay vì sử dụng điệu hò đưa linh thấy như còn não nùng, ai oán hơn, góp phần xoa dịu khổ đau của những kẻ mất mát người thân.

Đêm năm canh ngày sáu khắc con ve kêu giục giã,
Con đương mơ màng sực nghe tiếng mẹ kêu.
Muốn tìm mẹ tìm sao đặng mẹ,
Tây phương đất Phật mẹ đi không về.

Mùa thu năm vừa qua, nhân buổi gặp mặt với nữ sĩ Tôn Nữ Hỷ Khương ở Phật đường Khuông Việt tại Orsay, ngoại ô nam Paris, những người bạn Huế, đồng bào hâm mộ thơ nhạc lại được thưởng thức những câu hò gợi biết bao thương nhớ.

Chiều chiều trước bến Văn Lâu,
Ai ngồi, ai câu, ai sầu, ai thảm,
Ai thương, ai cảm, ai nhớ, ai trông?
Thuyền ai thấp thoáng bên sông
Đưa câu mái đẩy, chạnh lòng nước non.

Ngoài hò mái nhì, mái đẩy bên cạnh thơ văn đủ loại, cụ Ưng Bình còn có những câu hò giã gạo có tính cách trào phúng, ít được biết.

Áo Lơ-muya với giày cao gót
Theo em, theo chị cái mốt tân thời.
Vỏ ngoài che đậy mà chơi,
Tháo ngay trong dạ để gương đời soi chung.

Thấy ra hò thật là một thể loại dân ca rất được truyền tụng ở xứ Huế, một kho tàng văn nghệ dân gian phong phú, có thể là nơi tập trung nhiều điệu hò nhất trong một diện tích nhỏ hẹp miền Trung. Người con dân nào đã sống lên ở Huế mà không nuôi dưỡng trong lòng một bầu hò đầy kỷ niệm thơ mộng.

Để mua ve may bay di hue, xin vui lòng liên hệ với chúng tôi.

0 nhận xét
Nhãn: , , , , , ,

Ngôn ngữ ở xứ huế trong đời thường

Ngôn ngữ đời thường xứ Huế. Du lịch Huế. Du lịch Việt Nam, du lich Hue. Thong tin du lich Hue.
Với người Huế, những từ như mô, tê, răng, rứa… vừa gần gũi vừa giản dị thân thương vì nó đã ăn sâu vào trong nếp sống thường ngày của người dân Cố đô. Những câu từ đơn giản nhưng lại tạo nên sự kỳ lạ đối với du khách bốn phương. 

Đối với người Bắc và người Nam, tiếng Huế là một “ngoại ngữ” vừa khó nghe vừa khó hiểu. Tiếng Huế khó nghe vì cách phát âm không đúng chuẩn của ngôn ngữ tiếng Việt. “Nói” thành “noái”, “ông” thành “ôn”, “chân” thành “chưn”, “yêu” thành “ưng”, “không” thành “khôn”….  Ví như “Em có ưng anh khôn?” có nghĩa là “Em có yêu anh không?”.

Bên cạnh đó còn có các từ địa phương như “mô, tê, răng, rứa, mần, bựa, chừ…” đậm chất Huế. Điều này tạo nên sự khó hiểu cho những người mới nghe lần đầu. Có một cô gái phương Bắc từng bị bất ngờ khi lần tiên đặt chân đến Huế đã nghe câu hỏi “O đi mô rứa?”. Cô không biết phải trả lời như thế nào nếu như không có người dịch giúp “Cô đi đâu vậy?”

Nhưng cũng chính vì sự khó nghe khó hiểu đó mà tiếng Huế tạo nên một sắc thái riêng, không pha tạp với ngôn ngữ của các vùng miền khác.

Có người bảo: Người Huế chi lạ, con “mắt” thì bảo là con “ngươi”, cái “sân” thì bảo là cái “cươi”, cái “chổi” thì bảo là cái “chuổi”, cây “chuối” thì bảo là cây “chúi”… Thế mà khi sống ở Huế một thời gian thì họ lại bắt chước giọng nói Huế. Nhưng cho dù cách bắt chước của họ có giống đến đâu thì cũng không thể nói giọng Huế “chuẩn” như người Huế gốc.

Nhiều chàng trai khi đến Huế đều muốn lấy một cô gái Huế làm vợ. Phải chăng, chính từ giọng nói ấy đã tạo nên nét rất riêng, rất đặc biệt của người con gái Huế.
Ngôn ngữ Huế không tròn vành rõ chữ nhưng giản dị, chân phương, không kiểu cách, không màu mè. Hãy cùng lắng nghe cuộc đối thoại giữa một chàng trai và một cô gái sau bao ngày xa cách:

- “Răng bựa chừ anh khôn đến thăm em? (“Sao dạo này anh không đến thăm em?”)
- “Anh bị đau chưn.” (“Anh bị đau chân”)
-  “Răng anh khôn noái em qua thăm?” (“Sao anh không nói em đến thăm?”)
Chừ chưn anh răng rồi?” (“Giờ chân anh sao rồi?”)
-  “Khôn can chi” (“Không sao đâu”)

Lời đối thoại mộc mạc, chân tình nhưng thể hiện tình cảm thắm thiết của đôi trai gái.
Có người nói giọng Huế đầy chất thơ chất nhạc. Chỉ cần nghe cô gái Huế nói là đã thấy cả thơ và nhạc đong đầy.

Răng mà cứ theo tui hoài rứa
Cái ông ni mới dị chưa tề
Sớm trưa chiều ba bữa đi về
Đưa và đón mần chi không biết!”
(Trích đoạn bài thơ Chuyện tình Huế cùng “răng, rứa”)

Những người xa Huế không chỉ nhớ về Huế với sông Hương, núi Ngự mà còn nhớ về Huế với chất giọng đặc biệt. Chỉ cần nghe ai nói “mô tê răng rứa” thì đã có cảm giác thân quen rồi. Bởi thế, những người Huế đi xa rất dễ kết thân không chỉ vì tình đồng hương mà còn bởi vì cùng chung một ngôn ngữ Huế.
Dù cho tiếng Huế không phải là tiếng chuẩn quốc gia mà chỉ mang tính chất địa phương nhưng nó đã để lại ấn tượng không thể nào phai trong lòng du khách thập phương. “Hãy giữ chút gì rất Huế đi em” - Câu nói này không chỉ là lời nhắn nhủ giữ lấy hình ảnh của người con gái Huế đoan trang thùy mị với tà áo dài, chiếc nón lá nghiêng nghiêng mà còn giữ lấy giọng Huế mộc mạc, chân phương.


Để mua ve may bay di hue, xin vui lòng liên hệ với chúng tôi.

0 nhận xét
Nhãn: , , , , , ,

Cùng ăn món mặn, ngọt, chua, cay, nồng - Ốc Huế


Ốc Huế: mặn, ngọt, chua, cay, nồng. Đặc sản xứ Huế. Du lịch Huế. Du lịch Việt Nam, du lich Hue. Thong tin du lich Hue. Dac san co do Hue

Không như ốc ở những nơi khác, ốc Huế có đủ các vị mặn, ngọt, chua, cay, nồng. Một chút cay của tiêu, ớt, một chút nồng và thơm của gừng sả, một chút mặn mà của nước mắm, một chút vị ngọt toát ra từ thịt ốc...

Tất cả làm nên một món ăn vừa ngon vừa thơm. Chỉ cần nhìn thấy đĩa ốc nóng hổi bốc khói, mùi thơm ngào ngạt là mọi người đều có cảm giác thèm và bị quyến rũ ngay.

Ốc được lấy từ những nơi có mực nước không cạn cũng không sâu, thường ở lưng chừng sông hoặc đồng ruộng. Vì thế người ta mới gọi là “mò ốc”. Sông nước ở Huế có “vị” rất riêng làm cho ốc và hến ở đây định hình một hương vị đặc trưng mà không nơi nào có được. Ngày nay, do nhu cầu tiêu thụ quá lớn, lượng ốc trên các sông hồ trong nội thành đã trở nên khan hiếm, nguồn cung cấp chủ yếu là từ các vùng quê ven thành phố.

Có hai loại ốc: ốc hút và ốc bươu (người Huế thường gọi là ốc nhỏ và ốc to). Ốc thường được ăn kèm với chén nước mắm gừng, ớt tỏi cay, đĩa rau sống tươi ngon có thêm vài lát vả, dưa leo và chuối chát. Thêm vào đó là món bánh tráng giòn tan hoặc bánh phồng tôm chiên giòn. Dụng cụ để ăn ốc, người Huế gọi là “cây khươi ốc” không phải là tăm như những nơi khác mà là gai của cây bồ kết, nó nhọn nên rất dễ “khươi”.

Mỗi lần ăn ốc xong, ai nấy đều hít hà vì cay và nóng. Họ hít hà còn vì ngon quá nữa. Trông người nào môi cũng đỏ lên, mồ hôi lấm tấm nhưng vẫn ăn ngon lành. Có người ăn đến chảy nước mắt, nước mũi nhưng vẫn ăn đến cùng với cảm giác... tuyệt cú mèo!

Tuy ốc thuộc vào dạng thức ăn mát, dễ gây đau bụng, nhưng món ốc ở Huế lại được chế biến một cách cẩn thận để loại trừ yếu tố đó. Ốc được ngâm ba lần qua nước muối, nước gạo, nước sạch để loại đi chất bẩn. Thêm vào đó là các gia vị ớt, gừng, sả mang yếu tố nóng có tác dụng giảm đau bụng. Đặc biệt, ốc được nấu chín kỹ nên rất an toàn.

Là một thành phố nổi tiếng về du lịch, Huế ngày càng đa dạng và đặc trưng hơn trong phong cách ẩm thực. Món ốc thu hút rất nhiều đối tượng từ học sinh, sinh viên, người lao động bình dân đến những người sành điệu và cả khách du lịch. Tất cả đều có chung một cảm nhận ốc là món rất khoái khẩu, ăn rồi nhớ mãi và muốn ăn nhiều lần hơn.

Để mua ve may bay di hue, xin vui lòng liên hệ với chúng tôi.

0 nhận xét
Nhãn: , , , , , , , , , ,

Cùng ăn đặc sản bánh khoái xứ Huế


Bánh Khoái - Đặc sản xứ Huế. Du lịch Huế. Du lịch Việt Nam, du lich Hue. Thong tin du lich Hue. Dac san co do Hue



Đến với Huế mà chưa thưởng thức "bánh khoái" bị coi như còn thiếu sót. Và một địa chỉ đỏ của những người sành ăn xứ Huế khi nhắc tới bánh khoái chính là quán “Lạc Thiện” nằm ngoài cửa Thượng Tứ. Bánh khoái đổ bằng bột gạo, trộn với bột nghệ, trứng gà, nước và các gia vị mắm muối đánh cho thật mịn, thật sánh. Nguyên liệu phụ của bánh khoái là giá đỗ, giò sống và tôm. Bánh khoái ăn với rau sống gồm vả, chuối chát, khế thái lát và nước lèo.

Bánh khoái ngon chủ yếu nhờ nước lèo. Thực chất, nước lèo là một loại nước tương đặc biệt. Loại nước lèo này nếu không có nghề gia truyền, thì dù có thuộc công cũng khó chế biến được cho đúng vị. Ở Lạc Thiện, nước lèo bánh khoái chế biến từ hàng chục loại nguyên liệu khác nhau như tương đậu nành, nước mắm ngon, lạc, vừng, đường, ớt, tỏi và mắm ruốc. Thêm vào hỗn hợp trên một chút mắm ruốc - thứ mắm đặc trưng của xứ Huế. Nước lèo mang vị ngọt đậm đà, rất riêng không lẫn được là nhờ có mắm ruốc. Nước lèo có một hương thơm quyến rũ thật khó tả, vừa ngậy béo, vừa ngọt dịu, chỉ cần ngửi thôi cũng thấy thèm.

Cách trình bày cho tới cách thưởng thức bánh thể hiện phong cách của người Huế - nhẹ nhàng, bé nhỏ nhưng đậm đà, thân thiết. Chính vì thế, ai đã từng một lần đến Huế, một lần thưởng thức bánh Huế đều có cảm giác thoải mái và thích thú, ăn thì ngon đến thấm thía rồi đi xa lại nhớ, lại thèm.



Để mua ve may bay di hue, xin vui lòng liên hệ với chúng tôi.

0 nhận xét
Nhãn: , , , , ,

Cùng nhau ăn nem lụi xứ huế

Nem lụi xứ Huế. Đặc sản Huế. Du lịch Huế. Du lịch Việt Nam, du lich Hue. Thong tin du lich Hue. Dac san co do Hue




Rất đơn giản trong cách chế biến, thế nhưng nem lụi đã khiến biết bao nhiêu thực khách phải “ngẩn ngơ lòng” khi thưởng thức. Nguyên liệu để làm nên món nem lụi rất đơn giản: thịt heo đã quết nhuyễn trộn với bì, mỡ heo thái hạt lựu ướp cùng muối, tiêu đường, thính. Sau đó người ta lụi hỗn hợp này vào từng chiếc đũa tre nhỏ và nướng trên bếp than. Mùi vị thơm nức của thịt bốc lên trên từng chiếc đũa tre khiến thực khách “không cầm lòng” nổi. Đó là sự hấp dẫn đầu tiên mà món ăn mang tới cho bạn. 


Nhưng món nem lụi không chỉ kéo chân thực khách bởi mùi vị tỏa ra từ miếng thịt ngon lành, mà còn bằng chén nước chấm được pha chế rất độc đáo. Đó không phải là chén nước chấm chua ngọt mà chúng ta vẫn thường ăn với bún thịt nướng hay bún chả, mà là chén nước chấm được pha bằng kiểu rất riêng của người Huế. Đầu tiên, để làm nước chấm, người ta xay nhuyễn đậu phộng, cho thêm một chút nước mắm rồi đun trên bếp thành một hỗn hợp sền sệt giống như tương. Người ta còn cho thêm vào đó gan heo, thịt heo băm nhuyễn để món nước chấm được đậm đà và nhiều hương vị hơn.


Thông thường, người ta ăn kèm nem lụi với bánh tráng, rau thơm, khế chua, chuối xanh, sung… tùy theo khẩu vị mỗi người. Bày nem lụi ra đĩa, bạn sẽ thấy một món ăn đủ màu sắc: màu vàng ươm của miếng thịt đã được nướng, màu xanh của rau, màu nâu của nước chấm, và thêm chút đỏ tươi của vài miếng ớt thái nhuyễn.


Cầm miếng bánh tráng trên tay, lần lượt xếp rau thơm, khế chua, chuối xanh rồi tới nem lụi, cuốn vào và bắt đầu thưởng thức. Món ăn là sự kết hợp hài hòa của các hương vị: mùi thơm của miếng thịt đã nướng vàng, chút cay cay của tiêu và ớt, độ ngọt và bùi bùi của nước chấm sền sệt, vị tươi mát từ rau xanh... Thật ngọt ngào biết bao món nem lụi xứ Huế.


Để mua ve may bay di hue, xin vui lòng liên hệ với chúng tôi.

0 nhận xét
Nhãn: , , , , , ,

Cùng thưởng thức bánh ướt ở xứ huế

Bánh ướt xứ Huế. Đặc sản Huế. Du lịch Huế. Du lịch Việt Nam, du lich Hue. Thong tin du lich Hue. Dac san co do Hue
Khi ăn món này, không thể thiếu chút ớt trưng cay nồng và hành khô để đĩa bánh thêm phần thơm ngon. Bánh ướt có cách làm gần giống bánh cuốn miền Bắc. Trước tiên, các bà nội trợ thường tự tay pha bột gạo, thêm chút bột lọc để bánh trắng và trong, rồi tráng mỏng như bánh cuốn. Bánh thường tráng cùng mộc nhĩ rồi để nguội.
Món này có hai cách ăn, bạn có thể cuốn thịt, tôm vào bánh rồi chấm nước mắm pha nhạt. Cách hai phổ biến và dễ ăn hơn là cắt nhỏ từng miếng bánh rồi trộn cùng các nguyên liệu khác. Nhìn bề ngoài, đĩa bánh giống như đĩa nộm, vì có rau thơm, su hào, đu đủ thái chỉ, hành khô và không thể thiếu một chút ớt trưng thật cay, đậm chất Huế.
Bánh ướt là món quà dân dã, thích hợp cho những ngày hè nắng nóng. Bánh ăn nguội nên người bán không phải chuẩn bị hàng quán cầu kỳ hay củi lửa phức tạp. Chỉ cần đôi quang gánh, hai chiếc thúng nhỏ và vài chiếc chén bát đơn giản, những người phụ nữ bán rong có thể gánh hàng đi bán khắp phố xá, ngõ hẻm.
Dần dần, món ăn theo chân người Huế tới cả Đà NẵngSài Gòn và các tỉnh khác. Bánh ướt không chỉ là đặc sản của cố đô mà đã trở thành món quà ăn vặt ngon miệng, yêu thích của nhiều người.





Để mua ve may bay di hue, xin vui lòng liên hệ với chúng tôi.

0 nhận xét
Nhãn: , , , , , , ,

Cùng đi du lịch huế ở vườn quốc gia Bạch Mã

Du lịch Huế - Vườn Quốc gia Bạch Mã. Du lịch Việt Nam, du lich Hue. Thong tin du lich Hue.
Từ thành phố Huế xuôi theo quốc lộ 1A vào Đà Nẵng khoảng 40km, trước khi đến hầm Hải Vân, bạn rẽ vào con đường nhỏ lên Vườn Quốc gia Bạch Mã (VQGBM) nằm ngay cạnh chợ Cầu Hai, đi tiếp khoảng 3km bạn sẽ đến cửa chính vào vườn.

Bạch Mã là bức tranh hùng vĩ và thơ mộng được tạo thành bởi các dãy núi cao trùng điệp, là trung tâm dải rừng xanh tự nhiên còn lại duy nhất của Việt Nam và cũng là phần cuối cùng của dãy Trường Sơn Bắc kéo dài từ biên giới Việt - Lào ra tận biển Đông, trong đó đỉnh Bạch Mã cao 1.450m so với mực nước biển với phong cảnh ngoạn mục, nhiều đèo cao, thác nước. Khí hậu ở đây mát mẻ quanh năm, mùa hè từ 18 - 23oC và mùa mưa kéo dài từ tháng 9 đến tháng 1 năm sau được xem là nơi có lượng mưa lớn nhất Việt Nam, 8000mm/năm. Điều kiện nhiệt độ này chính là lý do từ những năm đầu thế kỷ XX, người Pháp đã xây dựng nhiều biệt thự, khách sạn và đường lên núi để biến nơi đây thành khu nghỉ mát lý tưởng. Năm 1925, một dự án thành lập Vườn Quốc gia Bạch Mã - Hải Vân để bảo tồn loài gà lôi lam mào trắng đã được trình lên Bộ Thuộc địa Pháp. Cho đến đầu những năm 1930, Pháp đã xây dựng 139 khu biệt thự, chợ, bưu điện và một con đường chạy ra tận quốc lộ 1A. Tuy nhiên, trong những năm chiến tranh sau này, quân đội Mỹ xây dựng sân bay trực thăng dã chiến trên đỉnh Bạch Mã và quanh khu vực này xảy ra nhiều trận chiến ác liệt. Một phần lớn rừng bị tàn phá nặng nề và các công trình biệt thự hầu hết chỉ còn lại dấu tích đổ nát. Năm 1988, khu rừng cấm Bạch Mã - Hải Vân được hoàn thành. Ngày 15/7/1991, Vườn QGBM chính thức được thành lập với diện tích 22.030ha.

Rừng Bạch Mã được cấu tạo bởi 2 loại rừng chính là rừng kín thường xanh mưa mùa nhiệt đới ở đai thấp dưới 900m và rừng kín thường xanh mưa mùa á nhiệt đới ở độ cao trên 900m. Khu rừng là ngôi nhà chung trú ngụ của hàng ngàn loài động thực vật khác nhau, nhiều loài đặc chủng, quý hiếm. Các nhà khoa học đã thống kê được 83 loài thú từ những giống động vật đang có nguy cơ tuyệt chủng đến những giống mới của thế giới và Việt Nam như hổ, vượn, voọc ngũ sắc, voọc vá chân nâu, sao la, gấu ngựa, báo gấm, khỉ mặt đỏ, mang lớn... Bạch Mã là nơi trú ngụ của 333 loài chim, tức là hơn 1/3 loài chim hiện có của nước ta. Nhiều loài chim đẹp và lạ như họa mi, khướu bạc má, chích chòe lửa, gà so, gà lôi trắng, gà lôi lam mào trắng và có đến 7 loài chim trĩ khác nhau, trong đó có loài quý hiếm như trĩ sao. Bạch Mã còn 256 loài bướm cùng nhiều loài bò sát, ếch nhái, cá và côn trùng trong đó 68 loài có tên trong Sách đỏ Việt Nam cần được bảo vệ nghiêm ngặt. Nhiều loài côn trùng kỳ lạ và độc đáo như bọ que có thân dài xương xẩu, màu sắc cơ thể giống như cành cây; kỳ nhông xanh cùng hàng đàn bướm màu sắc sặc sỡ rập rờn trên những khóm hoa hay đậu thành hàng trên vách đá rêu xanh. Các nhà khoa học đã lên danh sách 1406 loài thực vật ở nơi đây gồm những giống cây quý hiếm như trắc, trầm hương... và 338 loài cây có thể sử dụng làm thuốc nam. Một số cây dược liệu có giá trị lớn về kinh tế cần được bảo vệ và nhân giống như cây vàng đắng dùng chữa bệnh sốt rét và bệnh vàng da; cây hoàng tinh hoa trắng sử dụng làm thuốc bổ và chữa bệnh đau lưng. Một số loài lần đầu được phát hiện ở đây được đặt tên của vườn như Côm Bạch Mã, chìa vôi Bạch Mã. Vào khoảng thời gian đầu và cuối mùa mưa, rừng Bạch Mã còn sặc sỡ sắc màu của các loại hoa đỗ quyên, râu hùm, lan vani, trà hoa vàng cùng các giống nấm, địa y, dương xỉ thân gỗ có màu sắc và hình thù kỳ dị, phong phú...

Thời gian đến thăm vườn đẹp nhất trong năm từ tháng 3 đến tháng 9. Sau khi dừng chân nghỉ tạm ở trung tâm giới thiệu và đón tiếp du khách, bạn tiếp tục đi theo đường nhựa dài 14km ngoằn ngoèo đèo dốc dẫn lên đỉnh chính của Bạch Mã, nơi có khu nhà nghỉ chính, xây dựng theo phong cách lâu đài cổ kính được đặt tên theo các sản vật của rừng. Từ đây, bạn có thể lựa chọn nhiều tuyến tham quan trong khu vực. Trước hết là tuyến đường mòn Hải Vọng Đài dài khoảng 1km từ bãi đỗ xe lên đỉnh núi Bạch Mã. Từ đây bạn có thể quan sát cảnh đẹp tuyệt vời của toàn bộ rừng Bạch Mã, đầm phá Cầu Hai, cảng Chân Mây, bãi biển Cảnh Dương, Lăng Cô... Đi xuống từ đỉnh núi khoảng 2km theo đường dốc thoai thoải xuyên qua khu rừng á nhiệt đới, bạn tới thăm nhà sưu tập hàng trăm loài phong lan núi và các loài hoa khác. Từ nơi dừng chân, bạn cũng có thể đi theo đường mòn Ngũ Hồ qua cánh rừng có nhiều chim, bướm tới một loạt thác nước và 5 hồ trong xanh, phẳng lặng, còn nếu không đủ thời gian đi hết tuyến đường này, bạn có thể tách ra đi theo đường mòn đỗ quyên dốc thoai thoải tới đỉnh thác Đỗ Quyên với độ cao trên 300m, chiều rộng hơn 20m. Muốn thăm chim thú quý, bạn đi theo đường mòn Trĩ Sao dài khoảng hơn 2km, ngoài việc thưởng thức cảnh rừng và các hồ nước trong veo, bạn sẽ thấy khu vực này là nơi ở của các loài chim trĩ và heo, hươu, mang. Từ khu nhà nghỉ đi xuống 3km theo đường ô tô, bạn có thể rẽ vào đường mòn Chò Đen, một đoạn đường chỉ non nửa cây số nhưng rất dốc và khó đi, bạn sẽ bất ngờ khi tận mắt nhìn thấy nhiều cây cổ thụ cao ngất trên 30m và đều có đường kính trên 1m tụ họp với nhau san sát... Những du khách yêu nông nghiệp có thể lựa chọn đến các nhà vườn ở thôn Khe Su để tìm hiểu về đời sống canh tác của cư dân địa phương, rồi kết thúc chuyến du ngoạn sẽ là điểm dừng chân tại các suối thác đẹp như Thủy Điện, Đá Dựng để cắm trại và bơi lội thỏa thích.

Sau các cuộc đi rừng, lên thác, ngắm cảnh, du khách có thể quay về 4 nhà nghỉ tại khu vực đỉnh gồm Đỗ Quyên, Sao La, Kim Giao và Bạch Mã hoặc xuống các nhà nghỉ khác ở khu đón tiếp của các công ty du lịch Huế như Phong Lan, Cẩm Tú, Hoàng Yến... Các phòng nghỉ ở đây đều đầy đủ tiện nghi, một số phòng còn được thiết kế dành cho gia đình và tập thể với công trình phụ bên ngoài. Đặc biệt, những du khách yêu thích thiên nhiên có thể thuê trại dành cho 2 người hay 6 người để dựng trại nghỉ qua đêm ở bãi Thông Nàng, được tận hưởng vị sương lạnh của núi và nghe văng vẳng tiếng tâm sự của muông thú qua gió rừng thủ thỉ năm canh...





Để mua ve may bay di hue, xin vui lòng liên hệ với chúng tôi.

0 nhận xét
Nhãn: , , , , , ,

Cùng đi du lịch Huế ở núi Ngự Bình

Du lịch Huế - Núi Ngự Bình. Du lịch Việt Nam, du lich Hue. Thong tin du lich Hue.

Cùng với sông Hương, núi Ngự Bình là quà tặng vô giá thứ hai của tạo hoá, quyện vào nhau tạo nên vẻ sơn thủy hữu tình của Huế. Từ lâu, ngọn núi xinh đẹp này cùng với sông Hương trong xanh đã trở thành biểu tượng của thiên nhiên Huế. Vì vậy, người ta quen gọi Huế là xứ sở của sông Hương và núi Ngự.
Huế nổi tiếng không chỉ vì là nơi tập trung những đền đài lăng tẩm của các vua triều Nguyễn, nơi có những ngôi chùa, nhà thờ, đền đài nổi danh, nơi có những con người với danh xưng “người Huế trầm mặc”, mà Huế còn nổi tiếng vì có một thiên nhiên tươi đẹp. Đến Huế, cái cảm giác đầu tiên mà ta bắt gặp chính là đang bước vào một nơi tĩnh lặng, hiền hoà. Trước mắt du khách không phải đối diện với những ngọn núi cao hùng vĩ, chót vót, cũng không phải đối diện với những con sông dài rộng mênh mông sóng cuộn tung bờ mà là một cảnh quan rất thấp, rất nhẹ, rất êm, rất xinh và ngay cả du khách cũng sẽ tiếp xúc với một giọng nói cũng rất “ngang”. Tất cả đó là cảnh quan Huế mà nổi bật lên trên chính là sông Hương và núi Ngự. Con sông và ngọn núi biểu tượng của Huế. Đúng thế, như nhà thơ Bùi Giáng trả lời cho một ai đó hỏi về cảm tưởng của ông về Huế, ông chỉ cười và đáp:

“Dạ thưa xứ Huế bây giờ,
Vẫn còn núi Ngự bên bờ sông Hương”

Câu thơ lục bát rất đơn sơ, rất ca dao nhưng cũng “rất Huế”. Đừng ai hỏi Huế là gì? Huế là thế nào? Xin thưa “Huế là Huế” là “Hương Bình”.

Kinh qua bao nhiêu đổi thay, qua “bao lớp sống phế hưng”, Huế vẫn tồn tại với sông Hương và núi Ngự, với bao nhiêu nét đẹp đã đi vào thơ ca, đi vào lòng người.

Theo Đại Nam Nhất Thống Chí thì núi Ngự Bình có tên gọi là Bằng Sơn hay Bình Sơn, một ngọn núi không cao hình dáng giống cái bình phong, hai bên có hai núi đất là Tả Phù Sơn và Hữu Bật Sơn. Từ khi dời phủ về làng Phú Xuân và xây dựng chính dinh ở đây, chúa Nguyễn Phúc Thái tục gọi là chúa Ngãi, lấy Bằng Sơn làm tiền án ở mặt chính nam nên đổi tên là Ngự Bình Sơn. Từ đó về sau Ngự Bình Sơn là một trong những ngọn núi rất quan trọng trong việc xây dựng kinh thành Huế của các vua nhà Nguyễn. Ngay từ thời Nguyễn Huệ còn làm Bắc Bình Vương, khi nghe quân Thanh kéo 20 vạn quân sang xâm lấn nước ta, Nguyễn Huệ đã lập đàn tế cáo trời đất trên ngọn Hữu Bật Sơn, lên ngôi hoàng đế lấy niên hiệu là Quang Trung và tiến quân ra Bắc. Xem thế thì Ngự Bình là một ngọn núi rất quan trọng.

Ngày xưa từ chân núi lên đến đỉnh núi các vua chúa cho trồng thông, quanh năm xanh tốt. “Thông reo núi Ngự” chính là vì thế. Nhìn ngọn Ngự Bình cùng hai ngọn Tả Phù - Hữu Bật trông giống như con phượng hoàng đang xoè cánh che chở cho đế thành. Đây ngày xưa cũng là nơi dập dìu tới lui của các cặp tài tử giai nhân vào những tiết tốt như thanh minh, nguyên tiêu, trùng cửu. Đứng trên đỉnh Ngự, lắng nghe tiếng thông reo có thể thu vào tầm mắt toàn cảnh kinh thành Huế ẩn hiện những lâu đài thành quách, mái chùa cổ kính giữa một màu xanh của cây cối và sông Hương như giải lụa uốn lượn quanh co.
Ngay trước tầm mắt là các khu đồi, là rừng thông bát ngát tiếp đến một vùng đồng bằng rộng lớn của các huyện: Hương Thủy, Phú Vang, Hương Trà cỏ cây xanh rờn..., xa hơn là dãy Trường Sơn trùng điệp một màu tím thẫm ẩn hiện sau những tầng mây bạc. Nhìn về phía đông, là những dải cát trắng mờ phía xa cửa Thuận An với màu xanh thăm thẳm của Biển Đông. Núi không cao, không cheo leo gập ghềnh nhưng núi Ngự mang cái dáng vẻ của một con người trầm tư mặc tưởng, thanh thoát lâng lâng hồn người.
Cái đẹp của núi Ngự không phải là về mặt phong thủy che chở cho kinh thành Huế, cái đẹp của núi Ngự chính là chỗ nó gần gũi với dân Huế, nó trở thành một cái đài, một ngôi lầu cao vút và lên đó theo những bậc cấp nhân tạo người ta có thể phóng tầm mắt mình chiêm ngưỡng vẻ đẹp dịu hiền của thành Huế, lắng nghe những tiếng vọng từ bên dưới rất xa, và có cảm tưởng như mình đang ở vào một thế giới nào đó, thoát tục.
Đông qua, xuân lại, thời gian biến chuyển đổi thay, đã gần hơn nửa thế kỷ nay, cây cối trên núi hầu như không còn. Những năm gần đây, núi Ngự đã được sống lại. Từ xa du khách có thể thấy được các cụm thông trên núi, tuy chưa lớn lắm nhưng cũng đã phủ xanh được ngọn núi này, những ngày lộng gió, đứng dưới chân núi ta lại bắt đầu nghe điệu nhạc thông réo rắt. Và mấy năm trở lại đây, một nét văn hoá cố đô rất đáng hoan nghênh là vào những ngày đẹp trời, vào dịp Tết Nguyên đán, Tết Nguyên tiêu, trùng cửu, từng đoàn trai thanh gái lịch đã về đây, tiếp bước người xưa lên núi hái lộc, ca xướng ngâm vịnh. Cái sinh khí đã trở lại hứa hẹn cho Huế một tương lai sán lạn.

Cùng với sông Hương, núi Ngự Bình là quà tặng vô giá thứ hai của tạo hoá, quyện vào nhau tạo nên vẻ sơn thủy hữu tình của Huế. Từ lâu, ngọn núi xinh đẹp này cùng với sông Hương trong xanh đã trở thành biểu tượng của thiên nhiên Huế. Vì vậy, người ta quen gọi Huế là xứ sở của sông Hương - núi Ngự.





Để mua ve may bay di hue, xin vui lòng liên hệ với chúng tôi.

0 nhận xét
Nhãn: , , , , ,

Nữ phi công trẻ và cảm xúc giao thừa trên trời


“Những ngày Tết phải có những người làm để nhịp sống vẫn giữ được thăng bằng, để những chuyến bay là cầu nối đưa hành khách về sum họp cùng gia đình”- Nữ cơ phó Nguyễn Kim Châu chia sẻ.

Với dáng người khỏe khoắn, tóc cắt ngắn, chiếc răng khểnh duyên dáng mỗi khi cười, nữ cơ phó Nguyễn Kim Châu (1989)  là cô gái nhỏ tuổi nhất của Đoàn bay 919 - Tổng Công ty hàng không Việt Nam (Vietnam Airlines).
 
Hiện Châu đã có hơn 1.000 giờ bay an toàn. Châu tâm sự, việc cô đến với nghề phi công rất tình cờ. Học hết cấp 3, trong thời gian định đi du học, chỉ vì đọc qua một mẩu tin Vietnam Airlines tuyển phi công, Kim Châu đã quyết định đăng ký và trải qua các cuộc tuyển trạch gắt gao để được vào học lớp huấn luyện phi công.
 
Để có thể trở thành phi công, Châu đã phải trải qua những chuỗi ngày căng thẳng, chịu đựng gian khổ và rèn luyện ở các vòng kiểm tra thể lực nhịp tim huyết áp, bài thi trắc nghiệm phản xạ.... Sau đó, Châu  tiếp tục đi huấn luyện ở nước ngoài với hơn 200 giờ bay và hoàn thành một số bài thi để trở thành cơ phó.
 
“Để trở thành phi công, mỗi ngày học viên làm việc bắt đầu từ 4 giờ sáng, mải miết đến 24 giờ. Thời gian nghỉ đều phải tự ép mình vào những bài tập khắt khe để đảm bảo sức khỏe” - Kim Châu cho biết.
 
Có lẽ các lớp huấn luyện nghiêm khắc và đầy khổ cực đã tôi luyện cho Kim Châu trở thành một cô gái rắn rỏi và đầy bản lĩnh so với tuổi đời.
 
Là con cả trong gia đình, từ khi trở thành phi công, chưa bao giờ Kim Châu đón Tết trọn vẹn cùng ba mẹ và 2 em gái. Dịp Tết nào Châu cũng phải xa nhà, dù chỉ là những chuyến bay ngắn trong 3 ngày Tết.
 
Châu nghĩ nhưng ngày Tết phải có những người làm để nhịp sống vẫn giữ được thăng bằng, để những chuyến bay là cầu nối đưa hành khách về sum họp cùng gia đình.
 

Với nữ cơ phó Kim Châu, được phục vụ hành khách cũng là niềm vui lớn trong dịp Tết.
 
Lần đầu phải đón Tết trong khoang lái đóng chặt cửa, cô gái độc thân ấy không khỏi chạnh lòng với rất nhiều cảm xúc lạ và nỗi nhớ nhà.
 
Đêm chuyển giao năm mới, người người tụ họp hàn huyên chuyện cũ thì với Châu, khoảnh khắc giao thừa có khi chỉ là những đốm sáng nhỏ lóe lên rồi vụt tắt của chùm pháo hoa trên bầu trời, là tiếng ù ù bên tai của động cơ, là sự rung lắc của máy bay khi đi vào vùng gió…
Với Kim Châu được phục vụ hành khách cũng là niềm vui  lớn trong dịp Tết.
 
“Thấy mọi người quây quần bên nhau trong ngày Tết lại thấy nhớ nhà đến nao lòng. Đêm đêm, nhà nhà sum họp, cùng nâng ly chúc mừng năm mới thì những phi công vẫn lại chênh vênh trên trời. Nhưng mình hiểu, niềm vui của phi công là chuyến bay an toàn, giúp hành khách đoàn tụ cùng gia đình” - Kim Châu vui vẻ chia sẻ.
 
Đã từ lâu, những nữ phi công không còn khái niệm ngày cuối tuần hay lễ tết. Họ tính ngày tháng theo khái niệm ngày bay, ngày không bay, xa bố mẹ, chồng con.
 
Khi được chúng tôi hỏi, nghề vất vả thế liệu Châu có tính chuyện bỏ nghề không? thì Châu vừa lắc đầu vừa cười nói, mỗi người đều có sự lựa chọn về nghề nghiệp riêng và đã chọn nghề thì phải luôn tâm huyết mới làm tốt công việc được.
 
Có lẽ chính vì thế mà đêm giao thừa Tết này và sẽ nhiều đêm giao thừa nữa Kim Châu còn tiếp tục sát cánh cùng các chuyến bay để phục vụ hành khách đi lại trong dịp Tết.
 
 
Theo Tinmoi
 
 
 
 
 
 
__________________________________
Hàng Không Giá Rẻ chuyên cung cấp  cac ve may bay gia recac ve may bay gia totcac ve may bay di ha noi và cac ve may bay di hue ...

0 nhận xét
Nhãn: , , , , ,

Cùng mua vé đi du lịch Huế ở Cầu Trường Tiền


DU LỊCH HUẾ - CẦU TRƯỜNG TIỀN

Du lịch Huế - Cầu Trường Tiền. Du lịch Việt Nam, du lich Hue. Thong tin du lich Hue.
Cầu Trường Tiền hay còn được gọi là Cầu Tràng Tiền là chiếc cầu dài 402,60m; rộng 5,40m, có sáu vài và mười hai nhịp, được thiết kế theo kiến trúc Gô tích, mỗi nhịp có hình bán nguyệt, bắc qua sông Hương. Đầu cầu phía bắc thuộc phường Phú Hòa, đầu cầu phía nam thuộc phường Phú Hội; ở ngay giữa thành phố Huế.

Căn cứ bài thơ Thuận Hóa thành tức sự của nhà thơ Thái Thuận, thi sĩ Quách Tấn đã cho rằng dưới thời vua Lê Thánh Tôn, sông Hương đã có cầu. Và chiếc cầu đó, được làm bằng song mây bó chặt lại với nhau và nối liền nhau, nên có tên là cầu Mây. Rồi vì cầu có hình cái mống úp lên sông, nên còn có tên là cầu Mống. Trải bao năm tháng, không biết khi nào, cầu Mống được làm lại bằng gỗ, mặt cầu lát bằng ván gỗ lim.

Năm Thành Thái thứ 9 (1897), chiếc cầu trên được nhà cầm quyền Pháp (khi ấy Khâm xứ Trung Kỳ là Levécque) giao cho hãng Eiffel (Pháp) thiết kế (do Gustave Eiffel thiết kế) và khởi công xây dựng lại bằng sắt, đến năm Thành Thái thứ 11 (1899) thì hoàn thành và được mang tên vị vua này. Tổng cộng tiền xây cầu Thành Thái tiêu tốn hết khoảng 400 triệu đồng, là một số tiền lớn vào thời đó.

Năm Giáp Thìn (1904), bão lớn làm cầu hư hỏng nặng. Hai năm sau, tức năm Thành Thái thứ 16 (1906), chiếc cầu mới được sửa chữa lại bằng xi măng cốt thép. Tổng chiều dài cây cầu là 401,10m, rộng 6,20m, có 6 vài, 12 nhịp, mỗi nhịp được thiết kế hình bán nguyệt, các nhịp kế tiếp nhau làm thành một dải sóng đều đặn, mềm mại. Và diện mạo này, vẫn giữ được cho đến ngày hôm nay. Một năm sau, khi vua Thành Thái bị thực dân Pháp đày sang đảo Réunion, thì chính quyện thực dân Pháp cho đổi tên là cầu Clémenceau, theo tên của Georges Clemenceau, một Thủ tướng Pháp thời Thế chiến thứ nhất.

Đến năm 1937, cầu được mở rộng thêm hai hành lang ở hai bên, dành cho người đi bộ, xe đạp và những bao lơn (ban công) hình bán nguyệt được tạo ra ở 5 trụ cầu giữa 2 vai để có chỗ dừng chân, hay né tránh nhau.

Năm 1945 chính phủ Trần Trọng Kim đổi tên là cầu Nguyễn Hoàng.

Năm 1946, trong chiến tranh  cầu bị sập hai nhịp phía tả ngạn. Hai năm sau cầu được tu sửa để qua lại.

Trong Sự kiện Tết Mậu Thân, trụ 3 và nhịp 7 bị phá hủy. Một chiếc cầu phao được dựng lên tạm thời cho người qua sông và sau đó, cầu đã được sửa chữa lại.

Từ năm 1991 đến 1995, công ty Công ty Cầu 1 Thăng Long lãnh trách nhiệm trùng tu, xây lại hai nhịp cầu, đổi màu cầu từ màu dụ bạc sang màu lam. Tất cả các bao lơn cũng bị phá bỏ. Trước đây mặt cầu rộng 6m20, nhưng sau khi sửa chữa xong, chỉ còn 5m40, cho nên chỉ có xe loại nhỏ mới qua lại cầu được.

Mặc dù trải nhiều tên gọi, nhưng từ rất lâu, cái tên cầu Trường Tiền (vì chiếc cầu nằm gần một công trường đúc tiền, gọi tắt là Trường Tiền của nhà Nguyễn và phố Trường Tiền do vua Thành Thái lập năm 1899) vẫn được người dân quen gọi và đã đi vào nhiều bộ môn nghệ thuật... Hiện nay, cầu đã được gắn hệ thống đèn đổi màu làm mất đi nét đẹp vốn có của cây cầu.



Để mua ve may bay di hue, xin vui lòng liên hệ với chúng tôi.

0 nhận xét
Nhãn: , , , , ,

Cùng đi du lịch Huế ở chùa Thiên Mụ


Du lịch Huế - Chùa Thiên Mụ. Du lịch Việt Nam, du lich Hue. Thong tin du lich Hue.

Chùa Thiên Mụ nằm trên đồi Hà Khê, xã Hương Long, Tp. Huế, tỉnh Thừa Thiên - Huế. Chùa là một trong những kiến trúc tôn giáo cổ nhất và đẹp nhất ở thành phố Huế.

Chùa có nguồn gốc từ câu chuyện truyền thuyết:Năm Tân Sửu (1601) Đoan Quốc Vương Nguyễn Hoàng nhân đi du ngoạn các nơi núi non sông biển, khi đặt chân đến nơi đây thấy giữa chốn đồng bằng đột khởi một gò đồi cao dáng tựa như chiếc đầu rồng đang ngoái nhìn về phía núi mẹ, trước cuốn nước trường giang.

Cảnh trí tuyệt đẹp trong bụng lấy làm thích thú bèn leo lên trên đồi cao ngắm nhìn bốn phía xung quanh, chợt thấy một đoạn hào cắt ngang dưới chân núi, tìm hỏi người sở tại được họ tâu rằng: Núi này rất linh thiêng, đời nhà Đường có viên tướng là Cao Biền từng đi khắp đất nước ta xem những nơi nào có vượng khí linh thiêng thì cắt yểm đi. Cao Biền thấy trên núi này có khí thiêng bèn cho đào phía sau chân núi để cắt long mạch khiến cho về sau linh thiêng không tụ được...

Tháng 6 năm Giáp Ngọ (1714), Chúa Nguyễn Phúc Chu lại tiếp tục cho sửa sang và xây dựng thêm nhiều điện, đường huy hoàng, tráng lệ. Chúa tự làm một bài ký để ghi công đức của mình trong việc chấn hưng đạo Phật và những chi tiết mỹ thuật trong các bộ phận kiến trúc ở chùa rồi cho khắc vào một tấm bia lớn cao 2,6 m rộng 1,2 m dựng trên lưng một con rùa bằng đá cẩm thạch chạm trổ tinh vi. Chúa còn cho người qua Trung Quốc mua Đại tạng kinh và luật luận hơn một nghìn bộ đem về để tại chùa.

Cuối thế kỷ 18, chùa bị chiến tranh tàn phá nặng nề, năm 1815 và năm 1831, Vua Gia Long và Vua Minh Mạng cho trùng tu và sửa sang lại đẹp hơn. Năm 1844, Vua Thiệu Trị cho dựng thêm ngoài cửa Nghi Môn một cái tháp hình bát giác cao 21,24 m bảy tầng, mỗi tầng thờ một đức Như Lai, tầng cao nhất thờ Đức Thế Tôn. Tượng thờ ngày ấy đúc bằng vàng sau này được thay bằng tượng đồng. Vua đặt tên tháp là Từ Nhân, sau đổi lại là tháp Phước Duyên.

Trước tháp, Vua cho dựng Đình Hương Nguyện ba gian, bộ sườn bằng gỗ được chạm khắc công phu, tinh xảo, hai bên còn dựng thêm hai cái nhà để bia của Vua khắc vào năm 1846, mỗi bia cao 1,70 m rộng 0,9 m, bia bên hữu ghi nội dung kiến trúc tháp Phước Duyên và đình Hương Nguyện, bia bên tả ghi nhiều bài thơ của Vua.

Năm Giáp Thìn (1904), bão lớn ở Huế làm cho chùa bị đổ nát. Năm 1907, Vua Thành Thái cho trùng tu, quy mô chùa từ đây không còn to lớn như trước nữa nhưng vẫn cổ kính trang nghiêm.

Khuôn viên chùa được chia làm hai khu vực: Khu vực trước cửa Nghi Môn gồm có các công trình kiến trúc: Bến thuyền đúc bê-tông có 24 bậc tam cấp lên xuống, cổng tam quan là bốn trụ biểu xây sát đường cái, từ cổng tam quan bước lên 15 bậc tam cấp là đình Hương Nguyện (nay chỉ còn lại nền đất và bộ móng xây bằng đá thanh) sau đình Hương Nguyện là tháp Phước Duyên xây bằng gạch vồ bảy tầng cao vòi vọi, hai bên đình Hương Nguyện có hai lầu bia hình tứ giác (dựng thời Thiệu Trị), lui về phía trong có hai lầu hình lục giác một lầu để bia và một lầu để chuông (dựng thời Nguyễn Phúc Chu).

Thiên mụ là ngôi chùa cổ nhất, kiến trúc đồ sộ nhất và cũng là ngôi chùa đẹp nhất của xứ Huế. Vua Thiệu Trị liệt cảnh chùa Thiên Mụ vào một trong số 20 thắng cảnh của đất thần kinh trong bài thơ đề là Thiên Mụ chung thanh. Năm 1695, Chúa Nguyễn Phúc Chu đã mở đại giới đàn rất long trọng tại chùa Thiên mụ. Lịch sử huy hoàng của các Chúa Nguyễn trong quá trình khai phá, lập nghiệp ở Đàng trong có thể nói được mở đầu bằng công trình xây dựng chùa Thiên mụ.

Chùa Thiên mụ ngày nay vẫn huy hoàng, tráng lệ chính nhờ công lao trùng tu và xây dựng lại của Hòa thượng Thích Đôn Hậu. Những năm 1943 - 1945, chùa Thiên mụ lâm vào cảnh hoang tàn đổ nát, Hòa thượng Thích Đôn Hậu đứng ra nhận chức vị trụ trì. Bằng sự nỗ lực chưa từng có, Hòa thượng phát nguyện gây dựng lại ngôi chùa lịch sử trong suốt 30 năm. Đến mùa xuân năm 1968, chùa Thiên mụ đã trở lại phong quang tươi đẹp như xưa.

Đến với Thiên mụ, du khách không khỏi cảm kích trước vẻ đẹp thiên nhiên, trước công trình đời xưa để lại với ngọn tháp hùng vĩ đứng soi mình trên dòng Hương Giang duyên dáng. Nơi đây, từ bốn thế kỷ nay, sớm chiều tiếng chuông chùa ngân vang vọng cùng với khói hương ngào ngạt tỏa ra giữa thanh không vắng lặng, đã hấp dẫn và say đắm biết bao lòng người xứ Huế, và du khách bốn phương. Tiếng chuông chùa Thiên mụ từ bao đời đã đi vào ca dao, để lại nỗi nhớ nhung trong lòng người xứ Huế và bạn bè gần xa thiết tha với Huế.


Để mua ve may bay di hue, xin vui lòng liên hệ với chúng tôi.

0 nhận xét
Nhãn: , , , , , ,

Cùng mua vé đi du lịch Huế ở Đại nội


Du lịch Huế - Đại nội. Du lịch Việt Nam, du lich Hue. Thong tin du lich Hue.

Hoàng Thành nằm bên trong Kinh Thành, có chức năng bảo vệ các cung điện quan trọng nhất của triều đinh, các miếu thờ tổ tiên nhà Nguyễn và bảo vệ Tử Cấm Thành - nơi dành riêng cho vua và hoàng gia. Người ta thường gọi chung Hoàng Thành và Tử Cấm Thành là Đại Nội.

Hoàng Thành được xây dựng năm 1804, nhưng để hoàn chỉnh toàn bộ hệ thống cung điện với khoảng hơn 100 công trình lớn nhỏ thì phải đến thời vua Minh Mạng vào năm 1833 mọi việc mới được hoàn tất.

Hoàng Thành có 4 cửa được bố trí ở 4 mặt. Cửa chính (phía Nam) là Ngọ Môn, phía Đông có cửa Hiển Nhơn, phía Tây có cửa Chương Đức, phía Bắc có cửa Hòa Bình. Các cầu và hồ được đào chung quanh phía ngoài thành đều có tên Kim Thủy.

Hoàng Thành và toàn bộ hệ thống cung điện bên trong là khu vực cực kỳ trọng yếu, được phân bố chặt chẽ theo từng khu vực, tuân thủ nguyên tắc (tính từ trong ra): “tả nam hữu nữ”, “tả văn hữu võ”. Ngay cả trong các miếu thờ cũng có sự sắp xếp theo thứ tự “tả chiêu hữu mục” (bên trái trước, bên phải sau, lần lượt theo thời gian). Các khu vực đó là:

- Khu vực phòng vệ: gồm vòng thành bao quanh bên ngoài, cổng thành, các hồ (hào), cầu và đài quan sát.

- Khu vực cử hành đại lễ: gồm từ Ngọ Môn, cửa chính của Hoàng Thành - nơi tổ chức lễ Duyệt Binh, lễ Truyền Lô (đọc tên các Tiến sĩ tân khoa), lễ Ban Sóc (ban lịch năm mới)... đến Điện Thái Hòa - nơi cử hành các cuộc lễ Đại Triều một tháng 2 lần (vào ngày 1 và 15 Âm lịch ), lễ Đăng Quang, lễ Vạn Thọ, lễ Quốc Khánh...

- Khu vực miếu thờ: được bố trí ở phía trước, hai bên trục dọc của Hoàng Thành theo thứ tự từ trong ra gồm: bên trái có các miếu thờ Nguyễn Kim (Triệu Tổ Miếu), miếu thờ các vị chúa Nguyễn (Thái Tổ Miếu); bên phải có các miếu thờ Nguyễn Phúc Luân (Hưng Tổ Miếu) và miếu thờ các vị vua nhà Nguyễn (Thế Tổ Miếu).

- Khu vực dành cho bà nội và mẹ vua (phía sau, bên phải), gồm hệ thống cung Trường Sanh (dành cho các Thái hoàng Thái hậu) và cung Diên Thọ (dành cho các Hoàng Thái hậu).

- Khu vực dành cho các hoàng tử học tập, giải trí như vườn Cơ Hạ, điện Khâm văn... (phía sau, bên trái).

- Ngoài ra còn có kho tàng (Phủ Nội Vụ) và các xưởng chế tạo đồ dùng cho hoàng gia (phía trước vườn Cơ Hạ)

Khu vực Tử Cấm Thành nằm trên cùng một trục Bắc-Nam với Hoàng Thành và Kinh Thành, gồm một vòng tường thành bao quanh khu vực các cung điện như điện Cần Chánh (nơi vua tổ chức lễ Thường triều), điện Càn Thành (chỗ ở của vua), cung Khôn Thái (chỗ ở của Hoàng Quý phi), lầu Kiến Trung (từng là nơi ở của vua Bảo Đại và Hoàng hậu Nam Phương), nhà đọc sách và các công trình khác phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt của nhà vua và gia đình như Thượng Thiện Đường (nơi phục vụ ăn uống), Duyệt Thị Đường(nhà hát hoàng cung) ...

Mặc dù có rất nhiều công trình lớn nhỏ được xây dựng trong khu vực Hoàng Thành nhưng tất cả đều được đặt giữa thiên nhiên với các hồ lớn nhỏ, vườn hoa, cầu đá, các hòn đảo và các loại cây lưu niên tỏa bóng mát quanh năm. Mặc dù quy mô của mỗi công trình có khác nhau, nhưng về tổng thể, các cung điện ở đây đều làm theo kiểu “trùng lương trùng thiềm” (hay còn gọi là “trùng thiềm điệp ốc” - kiểu nhà kép hai mái trên một nền), đặt trên nền đá cao, vỉa ốp đá Thanh, nền lát gạch Bát Tràng có tráng men xanh hoặc vàng, mái cũng được lợp bằng một loại ngói đặc biệt hình ống có tráng men thường gọi là ngói Thanh lưu ly (nếu có màu xanh) hoặc Hoàng lưu ly (nếu có màu vàng). Các cột được sơn thếp theo mô típ long-vân (rồng-mây).

Nội thất cung điện thường được trang trí theo cùng một phong cách nhất thi nhất họa (một bài thơ kèm một bức tranh) với rất nhiều thơ bằng chữ Hán và các mảng chạm khắc trên gỗ theo đề tài bát bửu, hay theo đề tài tứ thời.

Điều đáng nói ở đây là sự phân biệt nam nữ, lớn nhỏ, trên dưới theo địa vị, thứ bậc rõ ràng, áp dụng cho mọi đối tượng cho dù đó là thành viên trong hoàng tộc, là mẹ vua hay hoàng tử, công chúa. Nam có lối đi riêng, nữ có lối đi riêng, quan văn một bên, quan võ một bên.

Tất cả nhất nhất đều chiếu theo quy định mà thực hiện, thể hiện rõ nét ý thức tập trung quân chủ, mọi quyền lực về tay nhà vua, đặc biệt là dưới triều vua Minh Mạng.

Đến nay, trải qua bao biến động và thời gian, hàng trăm công trình kiến trúc ở Đại Nội chỉ còn lại ít ỏi chiếm không đầy một nửa con số ban đầu.

Nhưng với tư cách là tài sản vô giá của dân tộc, là thành quả lao động của hàng vạn người trong suốt một thời gian dài, khu di tích Đại Nội đang dần được trả lại dáng xưa cùng các di tích khác nằm trong quần thể kiến trúc đã được cả nhân loại công nhận là Di sản Thế giới.

Được sự đầu tư của nhà nước và sự giúp đỡ của bè bạn gần xa trong cộng đồng quốc tế thông qua các cuộc vận động nhằm cứu vãn, bảo tồn và phát huy những giá trị vật chất và tinh thần của di sản văn hóa Huế, nhiều di tích ở hoàng cung Huế đã từng bước được phục hồi, trở lại nguyên trạng cùng nhiều công trình khác đang được bảo quản, sửa chữa, góp phần gìn giữ khu di tích lịch sử thuộc triều đại phong kiến cuối cùng ở Việt Nam.







Để mua ve may bay di hue, xin vui lòng liên hệ với chúng tôi.

0 nhận xét
Nhãn: , , , , ,

Cùng mua vé máy bay đi du lịch Huế ở Điện Thái Hòa


Du lịch Huế - Điện Thái Hòa. Du lịch Việt Nam, du lich Hue. Thong tin du lich Hue.

Điện Thái hoà là cung điện nằm trong khu vực Đại Nội của kinh thành Huế, là nơi đăng quang của 13 vua triều Nguyễn từ Gia Long đến Bảo Đại. Trong chế độ phong kiến cung điện này được coi là trung tâm của đất nước.

Quá trình xây dựng và trùng tu điện Thái Hòa được chia làm 3 thời kỳ chính; mỗi thời kỳ đều có những thay đổi lớn, cải tiến về kiến trúc và trang trí. Vua Gia Long khởi công xây dựng vào ngày 21 tháng 2 năm 1805 và hoàn thành vào tháng 10 cùng năm.

Năm 1833 khi vua Minh Mạng quy hoạch lại hệ thống kiến trúc cung đình ở Đại Nội, trong đó có việc cho dời điện về mé nam và làm lại đồ sộ và lộng lẫy hơn. Năm 1923 dưới thời vua Khải Định để chuẩn bị cho lễ Tứ tuần Đại khánh tiết của nhà vua (mừng vua tròn 40 tuổi) diễn ra vào năm 1924, điện Thái Hoà đã được "đại gia trùng kiến".

Qua các đợt trùng tu lớn nói trên và nhiều lần trùng tu sửa chửa nhỏ khác dưới thời vua Thành Thái, Bảo Đại và trong thời gian gần đây (vào năm 1960, 1970, 1981, 1985 và 1992) điện Thái Hòa đã ít nhiều có thay đổi, vẻ cổ kính ngày xưa đã giảm đi một phần. Tuy nhiên, cốt cách cơ bản của nó thì vẫn còn được bảo lưu, nhất là phần kết cấu kiến trúc và trang trí mỹ thuật.

Điện Thái Hòa là biểu trưng quyền lực của Hoàng triều Nguyễn. Điện, cùng với sân chầu, là địa điểm được dùng cho các buổi triều nghi quan trọng của triều đình như: lễ Đăng Quang, sinh nhật vua, những buổi đón tiếp sứ thần chính thức và các buổi đại triều được tổ chức 2 lần vào ngày mồng 1 và 15 âm lịch hàng tháng. Vào những dịp này, nhà vua ngồi uy nghiêm trên ngai vàng. Chỉ các quan Tứ trụ và những hoàng thân quốc thích của nhà vua mới được phép vào điện diện kiến. Các quan khác có mặt đông đủ và đứng xếp hàng ở sân Đại triều theo cấp bậc và thứ hạng từ nhất phẩm đến cửu phẩm, quan văn đứng bên trái, quan võ đứng bên phải. Tất cả các vị trí đều được đánh dấu trên hai dãy đá đặt trước sân chầu.



Để mua ve may bay di hue, xin vui lòng liên hệ với chúng tôi.

0 nhận xét
Nhãn: , , , ,

Cùng mua vé máy bay đi du lịch Huế ở lăng vua Tự Đức


Du lịch Huế - Lăng vua Tự Đức. Du lịch Việt Nam, du lich Hue. Thong tin du lich Hue.

Lăng Tự Đức là một trong những công trình đẹp nhất của kiến trúc thời Nguyễn. Ông vua thi sĩ Tự Đức (1848-1883) đã chọn cho mình một nơi yên nghỉ xứng đáng với ngôi vị của mình, phù hợp với sở thích và nguyện vọng của con người có học vấn uyên thâm và lãng tử bậc nhất trong hàng vua chúa nhà Nguyễn. Lăng tọa lạc trong một thung lũng hẹp thuộc làng Dương Xuân Thượng, tổng Cư Chánh (nay là thôn Thượng Ba, xã Thủy Xuân, thành phố Huế).

Với 36 năm trị vì, Tự Đức là ông vua tại vị lâu nhất trong số 13 vua nhà Nguyễn. Ông tên là Nguyễn Phúc Hồng Nhậm, con trai thứ hai của vua Thiệu Trị. Theo luật thế tập của chế độ phong kiến, lẽ ra anh trai ông là Hồng Bảo mới là người nối ngôi. Nhưng do tài năng thấp kém, tính khí ngông nghênh nên Hồng Bảo bị vua cha phế truất khỏi ngôi Tiềm để, Hồng Nhậm được đưa lên ngai vàng trở thành vua Tự Đức - một vị vua, một nhà thơ hiền lành, thương dân, yêu nước nhưng thể chất yếu đuối, tính cách có phần bạc nhược và bi quan.

Làm vua trong bối cảnh xã hội khó khăn, bên ngoài giặc ngoại xâm tấn công, bên trong huynh đệ lục đục giành nhau ngôi báu, bản thân nhà vua lại đau ốm, bệnh hoạn nên không có con. Tự Đức quả là một số phận của những bi kịch éo le. Để trốn tránh cuộc đời khắc nghiệt đó, Tự Đức cho xây dựng khu lăng tẩm này như một hành cung thứ hai để tiêu sầu và phòng lúc “ra đi bất chợt”, bởi như vua từng nói: “người khỏe còn lo chuyện bất thường huống chi kẻ yếu!” (Khiêm Cung Ký) .

Khi mới khởi công xây dựng, vua Tự Đức lấy tên Vạn Niên Cơ đặt cho công trình. Nhưng sau khởi nghĩa Chày Vôi do anh em Đoàn Hữu Trưng khởi xướng, vua cho đổi tên thành Khiêm Cung, sau khi vua mất gọi là Khiêm Lăng.

Bố cục khu lăng gồm 2 phần chính, bố trí trên 2 trục dọc song song với nhau, cùng lấy núi Giáng Khiêm ở phía trước làm tiền án, núi Dương Xuân làm hậu chẩm, hồ Lưu Khiêm làm yếu tố minh đường.  

Toàn cảnh lăng Tự Đức như một công viên rộng lớn. Ở đó quanh năm có suối chảy, thông reo, muôn chim ca hát. Yếu tố được tôn trọng triệt để trong lăng Tự Đức là sự hài hòa của đường nét. Không có những con đường thẳng tắp, đầy góc cạnh như các kiến trúc khác, thay vào đó là con đường lát gạch Bát Tràng bắt đầu từ cửa Vụ Khiêm đi qua trước Khiêm Cung Môn rồi uốn lượn quanh co ở phía trước lăng mộ và đột ngột khuất vào những hàng cây sứ đại thụ ở gần lăng Hoàng hậu Lệ Thiên Anh.

Sự sáng tạo của con người hài hòa với cảnh quan tự nhiên tạo nên một khung cảnh thơ mộng, diễm lệ. Trong cái quyến rũ của mây nước, hương hoa đó, người ta như quên đi rằng đó là lăng tẩm của một người quá cố mà ngỡ là thiên đường của cỏ cây, của thi ca và mộng tưởng...

Gần 50 công trình trong lăng ở cả hai khu vực tẩm điện và lăng mộ đều có chữ Khiêm trong tên gọi. Qua khỏi cửa Vụ Khiêm và miếu thờ Sơn Thần, du khách đi trên con đường chính dẫn vào khu vực điện thờ, nơi trước đây là chỗ nghỉ ngơi, giải trí của vua. Thoạt tiên là Chí Khiêm Đường ở phía trái, nơi thờ các bà vợ vua. Tiếp đến là 3 dãy tam cấp bằng đá Thanh dẫn vào Khiêm Cung Môn - một công trình hai tầng dạng vọng lâu như một thế đối đầu tiên với hồ Lưu Khiêm ở đằng trước. Hồ Lưu Khiêm nguyên là một con suối nhỏ chảy trong khu vực lăng, được đào rộng thành hồ. Đó là yếu tố “minh đường” để “tụ thủy”, “tích phúc”, đồng thời là nơi để thả hoa sen tạo cảnh. Giữa hồ có đảo Tịnh Khiêm với những mảnh đất trồng hoa và những hang nhỏ để nuôi thú hiếm. Trên hồ Lưu Khiêm có Xung Khiêm Tạ và Dũ Khiêm Tạ, nơi nhà vua đến ngắm hoa, làm thơ, đọc sách... Ba cây cầu Tuần Khiêm, Tiễn Khiêm và Do Khiêm bắt qua hồ dẫn người ta đến đồi thông bạt ngàn và đảo xanh ngát hương cỏ hoa, như đưa họ sang thế giới thần tiên, mộng ảo ngay giữa chốn đời thường.

Bên trong Khiêm Cung Môn là khu vực dành cho vua nghỉ ngơi mỗi khi đến đây. Chính giữa là điện Hòa Khiêm để vua làm việc, nay là nơi thờ cúng bài vị của vua và Hoàng hậu. Hai bên tả, hữu là Pháp Khiêm Vu và Lễ Khiêm Vu dành cho các quan văn võ theo hầu. Sau điện Hòa Khiêm là điện Lương Khiêm, xưa là chỗ nghỉ ngơi của vua, về sau được dùng để thờ vong linh bà Từ Dũ, mẹ vua Tự Đức. Bên phải điện Lương Khiêm là Ôn Khiêm Đường - nơi cất đồ ngự dụng. Đặc biệt, phía trái điện Lương Khiêm có nhà hát Minh Khiêm để nhà vua xem hát, được coi là một trong những nhà hát cổ nhất của Việt Nam hiện còn. Có một hành lang từ điện Ôn Khiêm dẫn ra Trì Khiêm Viện và Y Khiêm Viện là chỗ ở của các cung phi theo hầu nhà vua, ngay cả khi vua còn sống cũng như khi vua đã chết. Cạnh đó là Tùng Khiêm Viện, Dung Khiêm Viện và vườn nuôi nai của vua.

Ra khỏi khu vực tẩm điện, du khách theo con đường quanh co dẫn sang khu lăng mộ. Ngay sau Bái Đình với hai hàng tượng quan viên văn võ uy nghi là Bi Đình với tấm bia bằng đá Thanh nặng 20 tấn có khắc bài “Khiêm Cung Ký” do nhà vua soạn thảo. Tuy có đến 103 bà vợ nhưng Tự Đức không có con nối dõi nên đã viết bài văn bia này thay cho bia “Thánh đức thần công” trong các lăng khác. Toàn bài văn dài 4.935 chữ, là một bản tự thuật của nhà vua về cuộc đời, vương nghiệp cũng như những rủi ro, bệnh tật của mình. Tự Đức muốn dùng tấm bia khổng lồ đó để kể công và nhận tội trước lịch sử. Ông tự nhận tội mình: “Không sáng suốt trong việc biết người, ấy là của ta; dùng người không đúng chỗ, cũng là tội của ta; hàng trăm việc không làm được; đều là tội của ta cả...” và ông nhường cho sử sách đời sau đánh giá công, tội của mình. Tiếp sau tấm bia kia, hai trụ biểu sừng sững như hai ngọn đuốc tỏa sáng quyền uy và tài đức của nhà vua cùng với hồ Tiểu Khiêm hình trăng non đựng nước mưa để linh hồn vua rửa tội, thì đúng là Tự Đức thật chu toàn đối với việc đón nhận cái chết. Mới hay, Tự Đức là hiện thân sự thâm thúy siêu tuyệt của Nho gia! Giờ đây, yên nghỉ trong ngôi nhà bằng đá bên trong Bửu Thành, giữa một rừng thông vi vu gió lộng hẳn nhà vua hoàn toàn mãn nguyện với sự dàn xếp, lựa chọn cho cái chết của mình.

Ông vua thi sĩ đã nằm xuống giữa một không gian của thơ và nhạc, của sự yên bình trong tổng thể kiến trúc trác tuyệt về nghệ thuật xây dựng lăng tẩm thời Nguyễn. Người đời sau mỗi khi đứng trước khung cảnh thơ mộng này, ai cũng nghĩ đến một câu thơ đề tặng “ngôi nhà vĩnh cửu” của vua Tự Đức với sự tâm đắc, ngưỡng mộ:

          “Tứ bề núi phủ mây phong, Mảnh trăng thiên cổ, bóng tùng Vạn Niên”.


Để mua ve may bay di hue, xin vui lòng liên hệ với chúng tôi.

0 nhận xét
Nhãn: , , ,

Cùng đi du lịch Huế ở lăng vua Khải Định


Du lịch Huế - Lăng vua Khải Định. Du lịch Việt Nam, du lich Hue. Thong tin du lich Hue.
Vua Khải Định (1916-1925) là vị vua thứ 12 của triều Nguyễn và là người cuối cùng xây dựng lăng tẩm, chuẩn bị cho sự “ra đi” của một ông vua vào buổi mạt kỳ của chế độ phong kiến. Bước lên ngai vàng vào giữa tuổi 31, Khải Định say sưa với việc xây dựng cung điện, dinh thự, lăng tẩm cho bản thân và hoàng tộc như điện Kiến Trung, cung An Định, cửa Trường An, cửa Hiển Nhơn, cửa Chương Đức, đặc biệt là Ứng Lăng. Những công trình này làm hao tổn nhiều nhân lực, của cải của binh dân, song đó cũng là những công trình có giá trị văn hóa, nghệ thuật đặc sắc.

Trị vì được một thời gian, vua Khải Định đã lo nghĩ việc tạo dựng sinh phần cho mình. Sau khi tham khảo nhiều tấu trình của các thầy Địa, Khải Định chọn triền núi Châu Chữ (còn gọi là Châu Ê) làm vị trí để xây cất lăng mộ. Tọa lạc tại vị trí này, lăng Khải Định lấy một quả đồi thấp ở phía trước làm tiền án; lấy núi Chóp Vung và Kim Sơn chầu trước mặt làm “Tả thanh long” và “Hữu bạch hổ”; có khe Châu Ê chảy từ trái qua phải làm “thủy tụ”, gọi là “minh đường”. Nhà vua đổi tên núi Châu Chữ - vừa là hậu chẩm, vừa là “mặt bằng” của lăng - thành Ứng Sơn và gọi tên lăng theo tên núi: Ứng Lăng.

Lăng khởi công ngày 4-9-1920 và kéo dài trong 11 năm mới hoàn tất. Tiền quân Đô thống phủ Lê Văn Bá là người chỉ huy với sự trưng tập nhiều thợ nghề và nghệ nhân nổi tiếng khắp cả nước như Phan Văn Tánh, Nguyễn Văn Khả, Ký Duyệt, Cửu Sừng... Để có kinh phí xây dựng lăng, vua Khải Định đã xin chính phủ bảo hộ cho phép ông tăng thuế điền 30% trên cả nước và lấy số tiền đó để làm lăng. Hành động nay của Khải Định đã bị lịch sử lên án gay gắt.

 
Khải Định cho người sang Pháp mua sắt, thép, xi măng, ngói Ardoise...,cho thuyền sang Trung Hoa, Nhật Bản mua đồ sứ, thủy tinh màu... để kiến thiết công trình. So với lăng của các vua tiền nhiệm, lăng Khải Định có một diện tích rất khiêm tốn: 117m x 48,5m nhưng cực kỳ công phu và tốn nhiều thời gian. Người đời sau thường đặt lăng Khải Định ra ngoài dòng kiến trúc truyền thống thời Nguyễn bởi cái mới, cái lạ, cái độc đáo, cái ngông nghênh, lạc lõng... tạo ra từ phong cách kiến trúc. Toàn cảnh lăng Khải Định có một cái gì đó vừa quen, vừa lạ.

Tổng thể của lăng là một khối hình chữ nhật vươn lên cao với 127 bậc cấp như muốn thể hiện khát vọng tự chủ của ông vua bù nhìn này. Sự xâm nhập của nhiều trường phái kiến trúc: Ấn Độ giáo, Phật giáo, Roman, Gothique... đã để lại dấu ấn trên những công trình cụ thể: những trụ cổng hình tháp ảnh hưởng từ kiến trúc Ấn Độ; trụ biểu dạng stoupa của nhà Phật; hàng rào như những cây thánh giá khẳng khiu; nhà bia với những hàng cột bát giác và vòm cửa theo lối Roman biến thể... Điều này là kết quả của hai yếu tố: sự giao thoa văn hóa Đông - Tây trong buổi giao thời của lịch sử và cá tính của Khải Định. Sự xâm lược của chủ nghĩa tư bản phương Tây đã đột phá cánh cửa phong kiến để làn gió của văn hóa Tây Âu tràn vào Việt Nam.

Mặt khác Khải Định là một ông vua hiếu kỳ, chuộng cái mới nhưng có sự sàng lọc, một ông vua “mặc complet bên trong khoác long bào bên ngoài, ngực lấp lánh Bắc Đẩu Bội Tinh, thắt lưng gắn bóng đèn điện chớp đỏ” (lời L. Cadière) nên chẳng có gì phải “kiêng nể” trong việc “thâu tóm điều hay, cái lạ” của thế giới vào ngôi nhà vĩnh cửu của mình. May thay! Ý muốn kỳ quặc của ông vua ngông nghênh đó đã không bị bê nguyên xi vào trong kiến trúc. Bằng óc thông minh, sự chọn lọc tinh tế và đôi tay tài hoa khéo léo, người thợ Việt Nam đã tạo cho công trình những tuyệt tác nghệ thuật.

 Cung Thiên Định ở vị trí cao nhất là kiến trúc chính của lăng, nơi mà tài hoa của những người thợ được phô diễn, gởi gắm. Công trình này gồm 5 phần liền nhau: 2 bên là Tả, Hữu Trực Phòng dành cho lính hộ lăng; phía trước là điện Khải Thành, nơi có án thờ và chân dung vua Khải Định; chính giữa là bửu tán, pho tượng nhà vua và mộ phần phía dưới; trong cùng là khám thờ bài vị của ông vua quá cố. Toàn bộ nội thất của 3 gian giữa trong cung Thiên Định đều được trang trí những phù điêu ghép bằng sành sứ và thủy tinh. Đó là những bộ tranh tứ quý, bát bửu, ngũ phúc, bộ khay trà, vương miện... kể cả những vật dụng rất hiện đại như đồng hồ báo thức, vợt tennis, đèn dầu hỏa... cũng được trang trí nơi đây. Những vật liệu cứng, biệt lập, qua bàn tay vàng khéo léo của các nghệ nhân đã trở thành những tác phẩm nghệ thuật mềm mại, sống động và vô cùng rực rỡ. Đặc biệt chiếc bửu tán bên trên pho tượng đồng trong chính tẩm với những đường lượn mềm mại, thanh thoát khiến người xem có cảm giác nó được làm bằng nhung lụa, có thể xao động trước gió mà quên đi rằng đó đích thực là một khối bê tông cốt thép nặng gần 1 tấn.

Bên dưới bửu tán là pho tượng đồng của Khải Định được đúc tại Pháp năm 1920. Tượng do 2 người Pháp là P.Ducing và F. Barbedienne thực hiện theo yêu cầu của vua Khải Định. Thi hài nhà vua được đưa vào dưới pho tượng bằng một toại đạo dài gần 30m, bắt đầu từ phía sau Bi Đình. Phía sau ngôi mộ, vầng mặt trời đang lặn như biểu thị cái chết của vua.

Toàn bộ trang trí bên trong cung Thiên Định không chỉ phản ánh những giá trị văn hóa, nghệ thuật mà còn đề cập đến vấn đề nhận thức, chủ đề tư tưởng của công trình và ý muốn của nhà vua. Bên cạnh các đồ án trang trí rút từ các điển tích Nho giáo và cuộc sống của chốn cung đình, còn có những đồ án trang trí của Lão Giáo và đặc biệt là hàng trăm chữ Vạn - một biểu trưng của nhà Phật được đắp bằng thủy tinh xanh trên tường hậu tẩm. Phải chăng đó là sự thể hiện “Tam Giáo đồng hành” trong tư tưởng của vua quan và Nho sĩ đương thời? Phải chăng nhà vua cũng mong muốn được thư nhàn lúc về già và được nhập Niết Bàn, được siêu thoát sau khi băng hà ? Hay đó là sự bế tắc về tư tưởng của Khải Định nói riêng và tầng lớp quan lại thuở đó? Tất cả là những gợi mở đầy thú vị để du khách chiêm nghiệm mỗi khi tham quan công trình này.

Người chịu trách nhiệm chính trong việc kiến tạo những tuyệt tác nghệ thuật trong lăng Khải Định là nghệ nhân Phan Văn Tánh, tác giả của 3 bức bích họa “Cửu long ẩn vân” lớn vào bậc nhất Việt Nam được trang trí trên trần của 3 gian nhà giữa trong cung Thiên Định. Nhờ những đóng góp của ông và bao nghệ nhân dân gian tài hoa của nước Việt, lăng Khải Định đã trở thành biểu tượng, đỉnh cao của nghệ thuật tạo hình sành sứ và thủy tinh.

Cho dù bị lên án dưới nhiều góc độ khác nhau, lăng Khải Định đích thực là một công trình có giá trị về mặt nghệ thuật và kiến trúc. Nó làm phong phú và đa dạng thêm quần thể lăng tẩm ở Huế, xứng đáng với đôi câu đối đề trước Tả Trực Phòng trong lăng:

  "Tứ diện hiến kỳ quan, phong cảnh biệt khai vũ trụ.
Ức niên chung vượng khí, giang sơn trường hộ trừ tư.
(Bốn mặt đều là kỳ quan, phong cảnh mở ra một vũ trụ biệt lập.
Muôn năm hun đúc nên vượng khí, núi sông giúp đỡ mãi hoài). "


Để mua ve may bay di hue, xin vui lòng liên hệ với chúng tôi.

0 nhận xét
 
Vé máy bay, Mua vé máy bay giá rẻ © 2012 | Designed by Canvas Art, in collaboration with Business Listings , Radio stations and Corporate Office Headquarters